Cảm nghĩ của em về đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

Cảm nghĩ của em về đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

Hướng dẫn

Cảm nghĩ của em về đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

Phân công

Một trong những nét đặc sắc về nghệ thuật của “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du là lối viết tả cảnh ngụ tình. Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là bức tranh tâm trạng của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích. Đoạn thơ miêu tả nội tâm nhân vật thành công nhất trong Truyện Kiều. Đặc biệt là nghệ thuật thể hiện tình cảm ngụ ngôn.

Hơn 22 câu lục bát có âm điệu nhẹ nhàng, lạnh lùng, buồn man mác. Hầu như không có lời thoại, thậm chí không từ ngữ, hình ảnh và âm thanh trong bài thơ ít nhiều thể hiện tâm trạng khi yêu của nhân vật. Cảm thấy xấu hổ, buồn bã và lo lắng khi một mình trước mặt đất, Ngưng Bích ngoảnh mặt đi.

Bốn câu thơ đầu vừa là hình ảnh thiên nhiên quanh mặt đất vừa là hình ảnh tâm trạng.

“Trước lầu Ngưng Bích, khóa xuân

Vẻ đẹp của trăng ở xa, và trăng ở gần

Bốn bề xa tít tắp.

Đồi cát vàng, bụi hồng dặm ấy.

Hoàn cảnh của Kiều lúc này thật mơ hồ và bi đát. Kiều được Tú Bà thả ở lầu Ngưng Bích, nhưng thực chất là bị quản thúc. Cô đang vùng vẫy giữa không gian bao la hoang vắng. Từ trên tầng cao nhất, cô phóng tầm mắt nhìn ra bốn phía bao la, xa xa là núi non, cồn cát vàng vô tận… Ngẩng đầu, chỉ thấy gần đó chỉ có một mảnh trăng. Hình ảnh núi xa, trăng gần, bãi cát vàng, bụi hồng có thể là cảnh thật hoặc cũng có thể là hình ảnh gần đúng. Để gợi lên sự mênh mông của không gian hoang vắng đến rợn người. Như vậy thể hiện nỗi tủi nhục đáng thương của Kiều.

“Xấu hổ vào sáng sớm và tối muộn,

Một nửa tình yêu, một nửa giai đoạn, nó như là chia sẻ trái tim.

Sáng sớm nhìn mây, đêm tối đối diện với ánh đèn, con người thao thức, sẻ chia. Một mình với trăng – người bạn thân thiết nhất.

Xem thêm: Chủ đề 38 – Suy ngẫm về quan điểm của Mác-xít – Phát triển kỹ năng làm bài trắc nghiệm chọn lọc 9

Trong hoàn cảnh cô đơn bơ vơ nơi chân trời, trong nỗi cô đơn tuyệt đối, Kiều càng nhớ về những người thân yêu của mình. Nỗi nhớ đầu tiên là nỗi nhớ của Kim.

“Hãy nghĩ đến những người dưới trăng và chiếc cốc đồng.

Tức sương sớm đợi ngày mai.

Bên góc bể bơi vắng vẻ,

Sữa tắm không bao giờ lỗi mốt. “

Kiều vẫn có thể hình dung ra Kim Trọng vẫn chưa biết mình bị bán chuộc cha, bị đẩy đến chân trời góc bể mà vẫn ngày đêm chờ đợi, mòn mỏi chờ đợi. Cô mặc cảm, day dứt.

“Son môi… dành cho sân khấu”. Nàng đã phản bội tình yêu với Kim Trọng, phản bội ước nguyện với chàng Kim. Bao nhiêu dằn vặt rồi biết bao giờ mới nguôi ngoai.

Thật tệ là ngày mai có người dựa vào cửa

Quạt nóng lạnh cho những ai chờ đợi

Sân nhà Lai bao ngày mưa nắng.

Đôi khi ngồi rễ có thể khiến mọi người hôn nhau

Kiều thương cha mẹ sáng tối tựa cửa ngóng tin con, chẳng mong cầu cứu. Cô xót xa khi bố mẹ già yếu, không lo được cho mình giờ không ai chăm sóc.

Các thành ngữ “quạt ủ lạnh”, “săn tìm”, “chết gốc” đều thể hiện nỗi nhớ về tấm lòng hiếu thảo của Kiều, nàng hình dung ra cảnh nơi quê nhà đã thay đổi tất cả. Nhưng thay đổi lớn nhất là mẹ đã được mẹ ôm ấp – bố mẹ già yếu, câu thành ngữ “ngày nắng đi mưa” vừa có thể nói lên thời gian, vừa nói lên được sức mạnh hủy diệt thiên nhiên, nắng mưa của loài vật. con người tưởng nhớ cha mẹ của họ. Kiều vẫn ân hận vì đã có công sinh thành và nuôi nấng cha mẹ. Trong tình huống “Kiều trên lầu Ngưng Bích”, Kiều là một người tình thủy chung, hiếu thảo, có tấm lòng vị tha. Nỗi nhớ người thân của Kiều được thể hiện qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm ngày càng chân thực và cảm động.

Xem thêm: Đề 29: Phân tích nhân vật Phương Định trong Những ngôi sao xa xôi – Văn mẫu lớp 9 chọn lọc

Sau phút giây trở về bên người thương, Kiều lại trở về với số phận của chính mình.

Tám dòng cuối là đoạn thơ tả cảnh ngụ ngôn đặc sắc vừa là cảnh thực nhưng cũng vừa là tâm trạng, mỗi cảnh gợi ở Kiều những nỗi buồn khác nhau, những lí do buồn khác nhau, mỗi cặp sáu câu bát tạo nên một cảnh vật.

“Chiều tiếc nhìn cánh cửa tan nát,

Một con tàu đang ra khơi? “

Đây là bức ảnh của một buổi chiều đầy hoài niệm. Cảnh chiều thu đượm nỗi nhớ thương, giữa không gian bao la của biển khơi chỉ có cánh buồm thấp thoáng xa xa gợi lên trong lòng người lang thang cô đơn nỗi nhớ mong cha mẹ trở về. Trang Chủ. Đại từ ai mang âm điệu u uất. Đoạn thơ là một câu hỏi tu từ được nhân lên như một niềm hi vọng thiết tha, hoài cổ.

“Thật buồn khi thấy nước đổ mới,

Hoa có nguồn gốc ở đâu? “

Ánh mắt Kiều hướng về khoảng không gần nhất, nhìn những cánh hoa trôi lững lờ giữa dòng nước, Kiều buồn cho thân phận trôi nổi không rõ thân phận, bỏ xa cho thân phận. Hình ảnh mang ý nghĩa ẩn dụ gợi lên nỗi đau sâu sắc. Câu hỏi tu từ ở đây giống như một sự tự nhận lỗi lầm.

“Thật buồn khi thấy cỏ buồn,

chân mây xanh đất xanh ”.

Khung cảnh khá ấn tượng, không phải là đám cỏ non xanh mướt đến tận chân trời tràn đầy sức sống mà là đám cỏ khô héo rũ rượi với bức màn xanh trải dài từ mặt đất đến tận mây mù khiến Kiều càng thêm tuyệt vọng với cuộc sống tẻ nhạt, khô khan nơi này. , cảnh tối tăm như tương lai của Kiều.

Xem thêm: Kiểm tra ô nhiễm môi trường

“Thật buồn khi thấy gió thổi vào mặt bạn,

Âm thanh tuyệt vời của sóng xung quanh ghế. “

Trời đã xế chiều, sắc trời có vẻ u ám hơn, cảnh vật có vẻ nhợt nhạt, âm thanh to hơn cả tiếng sóng biển, như một điềm báo trước những giông tố dữ dội trong cuộc đời Kiều hay tiếng kêu đau đớn của Kiều khi hòa hợp với thiên nhiên, Kiều không chỉ buồn mà còn sợ hãi trước những giông tố cuộc đời. Sóng và gió ở đây là ẩn dụ cho những chực chờ rơi xuống trong cuộc đời Kiều. Như vậy cảnh của khổ thơ cuối được nhìn từ xa. Màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh đánh thức đến chuyển động để diễn tả nỗi buồn, từ bỏng rát mông đến lo lắng và sợ hãi. Bốn cặp câu lục bát sử dụng phép điệp ngữ “Buồn trông – buồn mà ngoảnh đi” không mong đợi một điều gì đó mơ hồ, vô vọng. Âm tiết này kết hợp với hình ảnh của các từ lóng: thoáng qua, xa xôi, man mác, buồn bã, xanh biếc, gầm gừ tạo nhịp điệu diễn tả nỗi buồn đang lớn dần, sự ám chỉ “Trông buồn” tạo nên âm thanh. Nỗi buồn là điệp khúc của bài thơ, là điệp khúc của những tâm trạng.

Trong đoạn trích với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc, Nguyễn Du đã khắc họa hình ảnh phong phú, sinh động giữa tả ngoại cảnh, tâm trạng và tâm trạng của Kiều. Xấu hổ, bỏ mặc, thẫn thờ khi rơi vào hoàn cảnh bơ vơ, bế tắc. Qua đoạn trích, người đọc thấy được sự đồng cảm, chia sẻ sâu sắc của tác giả đối với người phụ nữ tài sắc vẹn toàn. Đoạn trích thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc.

Nguồn: Bailamvan.edu.vn