Cảm nghĩ về thân phận người phụ nữ Việt Nam xưa

Đề: Qua bài thơ Bánh trôi, Tự tình II của Hồ Xuân Hương và bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương, em hiểu gì về thân phận người phụ nữ Việt Nam xưa?

Hồ Xuân Hương đã sáng tác nhiều bài thơ nổi tiếng về chủ đề phụ nữ. Thơ ông là tiếng nói đòi quyền sống tự do và thể hiện khát vọng hạnh phúc. Trần Tế Xương cũng có một số bài thơ nói về những vất vả mà người phụ nữ phải chịu đựng trong xã hội phong kiến ​​trọng nam khinh nữ.

Mượn hình ảnh chiếc bánh trôi nước quen thuộc trong truyện dân gian, Hồ Xuân Hương gửi gắm những suy nghĩ sâu sắc về thân phận nhỏ bé, phụ thuộc của người phụ nữ:

Cơ thể của tôi trắng và tròn,
Bảy chiếc phao chìm theo dòng nước.
Rắn bị bẻ gãy bởi bàn tay của những tảng đá,
Nhưng tôi vẫn giữ trái tim mình.

Bánh được làm bằng bột nếp trắng tinh, mịn, tròn, xinh gợi nhớ đến vẻ đẹp đầy đặn tự nhiên của thiếu nữ đang độ xuân thì. Bánh luộc trong nồi nước sôi, trụng vài lần là bánh nổi lên trên mặt nước là xong. Bột bánh trắng trong với màu nâu đỏ của nhân làm từ thảo quả. Bằng con mắt và trái tim giàu cảm xúc, Hồ Xuân Hương nhận ra rằng đằng sau những chi tiết rất thực ấy ẩn chứa nỗi đau và trách nhiệm của một người phụ nữ. Sự sáng tạo của họ ra đời nhằm duy trì và phát triển sự sống của nhân loại, đồng thời làm đẹp cho cuộc sống. Vai trò của họ vô cùng quan trọng nhưng cái nhìn thiên lệch về xã hội phong kiến ​​đã cố tình phủ nhận. Họ là: một người đàn ông viết bên phải, mười người phụ nữ viết. Họ là: Phụ nữ nước ngoài.

309427 - Cảm nghĩ về thân phận người phụ nữ Việt Nam xưa

Sau đó, luật Tam bảo ràng buộc người phụ nữ vào tình trạng lệ thuộc vĩnh viễn: ở nhà thì vâng lời cha, khi lấy chồng thì làm chồng. Những quan niệm cổ hủ, khắt khe này đã lấy đi thứ quý giá nhất là quyền tự do sống đúng với con người mình và đáng sợ hơn cả là nó biến phụ nữ trở thành một cái bóng mờ nhạt trong suốt cuộc đời. Họ tồn tại hơn là sống theo nghĩa tích cực của thuật ngữ này. Không khác gì những chiếc bánh trôi, đặc quánh, nát, biến dạng, tròn xoe hoàn toàn do bàn tay người làm.

Trong bài thơ Tự tình II, Hồ Xuân Hương đã thể hiện nỗi bức xúc tột cùng của chính mình, cũng như tâm trạng chung của bao người phụ nữ cùng cảnh ngộ trong xã hội phong kiến:

Đêm khuya tiếng trống canh gác,
Trơ bên hồng có nước non.
Một tách hương làm cho cơn say trở lại tỉnh táo,
Trăng khuyết chưa tròn.
Nghiêng trên mặt đất, rêu thành từng đám,
Đập vào chân mây, đá vài tảng đá.
Chán xuân lại xuân,
Một mảnh yêu thương để chia sẻ với một đứa trẻ nhỏ!

Nói đến phụ nữ là nói đến sắc đẹp, tình yêu và sự hy sinh. Họ cống hiến hết mình cho cuộc sống mà không đòi hỏi những lợi ích vật chất nào khác ngoài sự tôn trọng, cảm thông và chia sẻ. Nhưng những điều này ít được gia đình và xã hội quan tâm vì cho rằng thiên chức của người phụ nữ là sự khuất phục vô điều kiện. Hiểu được nỗi oan này, Hồ Xuân Hương đã viết nên những vần thơ đầy xót xa, chua xót như trên. Hồng nhan là cách gọi mỹ nữ, rộng hơn là chỉ những người cùng giới. Nhưng gọi nó là mặt đỏ có nghĩa là phải hạ nó xuống ngang hàng với những vật vô tri vô giác khác. Nỗi xót xa, tủi nhục chất chứa trong câu thơ: Nét mặt đỏ hồng với nước non thấm đẫm phong cách biểu cảm độc đáo của Xuân Hương.

Xem thêm: Một nhà văn Nga từng nói: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi không có tình yêu thương”. Bạn nghĩ gì về câu này?

Những lời tâm sự mang nặng nỗi buồn, số phận và số phận của nữ ca sĩ không biết tâm sự cùng ai nên quay cuồng, dằn vặt trong lòng giữa đêm khuya thanh vắng. Nhưng dù bị phản bội hay bị lãng quên, nhân vật trữ tình của bài thơ vẫn không tuyệt vọng, vẫn khát vọng sống mãnh liệt, vẫn khát khao hạnh phúc cháy bỏng, vẫn mong được sẻ chia, bù đắp tình cảm. .

Bài thơ Thương vợ của nhà văn trào phúng nổi tiếng Trần Tế Xương có thể coi là bức chân dung tương đối hoàn chỉnh về người phụ nữ trong xã hội phong kiến:

Quanh năm buôn bán trên dòng sông mẹ,
Nuôi năm người con với một đời chồng.
Bơi thân cò khi vắng bóng,
Mặt nước đông nên đông.
Một duyên nợ, một định mệnh,
Năm nắng mười năm mưa dám quản công.
Cha mẹ sống một cuộc sống tiền bạc,
Có chồng hờ hững như không.

Trước đây, Nho giáo yêu cầu phụ nữ phải thờ chồng, nuôi dạy con cái. Thờ chồng đối với bà Tú là nuôi chồng là không công bằng vì thực tế, đàn ông phải là trụ cột gia đình về mọi mặt.

Bà Tú xuất thân trong một gia đình giàu có. Khi còn sống với cha mẹ, cô không phải chịu khó. Là vợ ông Tú, bà vất vả trên con đường học hành nhưng không có công ăn việc làm nên đành chấp nhận cuộc sống khổ cực dài đằng đẵng. Quanh năm bôn ba với mẹ buôn bán sông nước, bến chợ để nuôi năm người con với một đời chồng. Nhưng nuôi một người chồng đặc biệt tài giỏi như anh Tú không chỉ lo miếng cơm, manh áo mà còn phải chuẩn bị rượu chè cho anh, một ít tiền tiêu vặt để anh vui vẻ với bạn bè. đã cho nó một hai bộ quần áo tươm tất để nó đi đâu cũng không thấy tủi thân … Vậy nên bà Tú chắc đã lo lắng nhiều, phải làm nhiều nhưng không dám nói, đành than thở: “Một số phận, hai duyên nợ, Năm nắng mười mưa dám lệ. Cô thầm cho rằng đó là số phận sắp đặt. Suy nghĩ, tâm trạng của bà Tú cũng là suy nghĩ, tâm trạng chung của người phụ nữ xưa.

Nhà thơ Trần Tế Xương từng tự nhận mình là người chồng vô dụng, bỏ vợ mà lội thân cò lặn… chẳng khác gì những thân cò đáng thương trong ca dao – dân ca, tượng trưng cho những vất vả, cơ cực của người phụ nữ thân phận. Ngoài nỗi khổ về vật chất, bà Tú còn phải chịu những nỗi khổ về tinh thần. Cô ấy hết lòng vì chồng con nhưng có chồng con thì có biết không? ! Chính vì vậy mới có tiếng thở dài như than thở đau lòng: Cha mẹ có kiếp bất bình, Có chồng hờ hững như không!

Có lẽ anh Tú đã hóa thành vợ mình, để hiểu chị và thông cảm cho chị. Kết hôn mà không được hỏi hoặc tin tưởng; Lấy phải người chồng hờ hững vừa có vừa không.

Cả ba bài thơ đều có chung một chủ đề và đều toát lên thân phận phụ thuộc, nhỏ bé đến đáng thương của người phụ nữ trong xã hội phong kiến ​​xưa. Nhà thơ Hồ Xuân Hương và Nhà thơ Trần Tế Xương đã góp phần không nhỏ vào tiếng nói chung bảo vệ quyền lợi chính đáng của một nửa nhân loại – những người gánh trọng trách duy trì sự sống trên trái đất này.

Xem thêm: Thư của người đứng đầu môn ngữ văn Ấn Độ 6