Chứng minh tấm lòng nhân đạo trong bài văn mới Nhặt vợ của Kim Lân

Đề bài: Chứng minh tấm lòng nhân đạo trong truyện ngắn Người vợ được chọn của Kim Lân.

Văn học Việt Nam sau năm 1945 không chỉ giàu tính chiến đấu mà còn giàu tính nhân văn. Hai tính chất này không thể tách rời vì cuộc chiến đấu của dân tộc hơn ba trăm năm nhằm mục đích khẳng định con người, mặt khác để bảo vệ và yêu thương con người thì cần phải chiến đấu. “Vợ Nhặt” được hoàn thành sau năm 1955 dựa trên một bản thảo cũ viết ngay sau Cách mạng Tháng Tám nhưng đã bị thất lạc. Khoảng cách mười năm này đã giúp tác giả sống sâu sắc tư tưởng của tác phẩm, biến nó trở thành một tác phẩm có giá trị nhân đạo sâu sắc và giàu tính nhân văn.

Bước vào truyện, người đọc không khỏi ngỡ ngàng trước nhan đề “Người đàn bà nhặt nhạnh”. Tại sao không phải là một tiêu đề khác? Đó là tiêu đề gây ấn tượng đầu tiên và gợi ra một hoàn cảnh éo le cho những người phụ nữ …

Truyện ngắn “Vợ nhặt”, đọc xong một lần có lẽ bạn đọc sẽ cảm thấy tình huống truyện khá lạ. Truyện kể về nhân vật Tràng, một người nghèo khổ, xấu xí và cũng là người ở trọ. Giữa cơn đói và khát có một người phụ nữ. Và việc một người như Tràng Cỏ làm vợ giữa lúc khốn khó đến như vậy khiến mọi người, mẹ Tràng, và ngay cả chính Tràng cũng phải ngạc nhiên.

Câu chuyện diễn ra trong bối cảnh nạn đói ở miền Bắc năm 1945, một nạn đói thảm khốc được thể hiện qua hàng loạt hình ảnh, đó là những đứa trẻ chỉ biết chơi và đang chơi đang ngồi ủ rũ bên góc tường. Tường. . Những người lớn vốn khỏe mạnh, nhanh nhẹn nay nước da trắng bệch với những bước đi loạng choạng như những bóng ma. Nơi người chết như gốc rạ nằm giữa những cái lều chợ không thể chôn cất. Cái đói, cái khó bao trùm khắp cảnh vật, đó là con đường nhỏ mỏng manh, những ngôi nhà đổ nát, màu đen của đêm đen, màu xanh xám của người chết và làn da của người sống. . Thỉnh thoảng không khí vang lên tiếng kêu của người chết, tiếng hót của quạ, và cả mùi hôi thối, mùi hôi thối của xác chết. Khung cảnh này đã tái hiện một cách chân thực hình ảnh đen tối và thê lương của ngôi làng đang sống trong nạn đói.

Không chỉ vậy, đói khát còn có thể khiến cô gái trong truyện vốn ngọt ngào, nhút nhát, rụt rè trở nên bồng bột, bốc đồng và liều lĩnh. Quả thực, trong nạn đói này, không ai tin rằng họ có thể sống sót. Trong khi đó, Tràng lại nhận cô gái kia làm vợ, đưa cô ta vào tròng rồi đưa cô ta về nhà. Người ta thường nói, cái đói làm mất giá của một người, con gái phải theo hay không một người đàn ông nào đó cô không biết chỉ vì bốn cái bánh. Nhưng đây chỉ là bề nổi, với tấm lòng nhân hậu nhà văn đã nhìn thấy tấm lòng chân thành muốn được sống của cô gái, đồng thời ông cũng cảm thông cho nỗi khát khao có vợ của Tràng. Anh chàng tặc lưỡi liều lĩnh: Thôi kệ, cứ ôm nàng đi.

IMG2 - Chứng tỏ lòng nhân đạo trong truyện nhặt vợ mới của Kim Lân

Trang đưa cô gái về nhà, bà con lối xóm nhìn thấy thì lấy làm lạ. Cả hai cùng đứng xem và nói chuyện. Có người chợt cười rạng rỡ nhưng cũng có người thở dài “Không biết có nuôi nhau được qua thời buổi này không?”. Và cả hai đều im lặng. Cả hai phóng xe về nhà, có lẽ Trang là người vui nhất, có lúc hớn hở, có lúc trốn tránh, có lúc lại cười, chứng tỏ anh đang rất hạnh phúc. Đi bên cạnh cô gái gầy gò, rách rưới, anh không hề khinh thường cô gái đi theo anh chỉ vì bát bánh. Anh cũng không cảm thấy mặt mũi khi nó ở trong túi mà ngược lại, anh còn cảm thấy nhờ có cô mà anh đã quên hết cảnh sông nước tối tăm mịt mù hàng ngày, thậm chí là cả những cơn đói khát khủng khiếp từng xảy ra. đe dọa… Vì Tràng đã nhìn thấy ở cô gái trẻ một nguồn ấm áp và ánh sáng chiếu rọi cuộc đời mình. Về phần cô gái, cô không hề mặc cảm về danh tính bị đánh cắp của mình. Trên đường về nhà, đôi khi cô ấy cười nhạo anh, đôi khi cô mắng anh, rồi đánh anh vào lưng và quay mặt về phía anh. Cô vẫn cảm thấy tự hào về bản thân như bao cô gái khác, họ đã thực sự định hướng và yêu thương nhau như một cặp đôi khi mới quen nhau.

Xem thêm: Phân tích đoạn thơ: Ngỡ mình có nhớ mình ….. Bài ca thủy chung nhớ ai, trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

Điều thú vị là tác giả đã để hai người này đi qua trước sự chứng kiến ​​của dân làng. Hình ảnh này thể hiện sự thử thách khốc liệt của khát vọng sinh tồn và khát vọng hạnh phúc trước mọi nỗi tuyệt vọng, tê liệt do nạn đói gây ra. Đoạn văn này, tác giả khẳng định lẽ sống và ý chí sinh tồn của con người, biết trân trọng và yêu quý hành động của họ.

Nhưng giá trị nhân đạo của tác phẩm không chỉ có vậy. Qua chi tiết đôi vợ chồng già mới được giới thiệu và sau một đêm trở thành vợ chồng, nhà văn cũng khẳng định một điều, tình yêu sống sẽ thắng chết, cuộc sống sẽ đổi thay …

Trước nạn đói khủng khiếp này, người mẹ cũng thất vọng và hoài nghi như bao người: “Liệu chúng tôi có thể tự nuôi mình qua cơn đói này không? rồi cô ấy thở dài. Người mẹ này đã sống một cuộc đời nghèo khó. Mẹ luôn là người hiểu con mình nhất, như nhà thơ Nga Exinhin đã viết:

“Ánh sáng kỳ diệu lúc hoàng hôn

Hãy tiếp tục tỏa sáng trên mái nhà của bạn. “

Nhưng khi lần đầu tiên nhìn thấy người phụ nữ lạ mặt trong nhà mình, cô không hiểu gì cả. Cô bất ngờ và bối rối trước nhiều câu hỏi “sao lại có người phụ nữ ở đó? Người phụ nữ nào lại đứng như thế này ở đầu giường con trai mình? Sao lại chào hỏi với bạn? Ai vậy? Cô ta đứng lấy tay dụi mắt rồi quay lại nhìn đứa con trai tỏ vẻ không hiểu rõ ràng cái đói dã man đã khiến người mẹ quên đi linh cảm và sự hiểu biết của một người mẹ đứa con, trong lúc đói khát, tính mạng bị đe dọa, con người gần như mất hết lý trí. Và khi chị hiểu, cảm giác của một người mẹ trong mình càng dâng lên, chị thương con, xót con, thậm chí từ chính mình, chị nhận ra con mình là người may mắn nhất: con người ta đã phải trải qua giai đoạn khó khăn và đói khổ này, chỉ để có Thông thường, người ta khi lấy vợ phải làm lễ cúng tổ tiên, làm vài mâm rượu để đãi họ hàng, làng xóm. nhưng trong hoàn cảnh như vậy, làm thế nào điều này là có thể. Cô chợt thấy thương cho cô dâu mới, rồi thương cho cô gái chịu số phận “dâu được chọn”. Bà thương con dâu tội nghiệp và hướng mọi tình cảm về con dâu. Trong đêm đen xám xịt của nạn đói, vẻ đẹp tâm hồn của mẹ và con là hai ánh sáng lấp lánh, thể hiện một vẻ đẹp nhân đạo cao cả của con người Việt Nam.

Sau một đêm dài. Trong bóng tối, hai người trở thành vợ chồng, nên chồng bắt đầu cuộc sống mới. Mặc dù vẫn còn chết đói, mọi thứ dường như đã tìm thấy sự sống mới. Nhà cửa sạch sẽ, ngăn nắp, ao tù đầy, cô tiểu thư nhân hậu, đảm đang, Tràng bỗng thấy yêu và gắn bó lạ kỳ với ngôi nhà của mình. Anh chợt thấy mình đã trở thành một người đàn ông, anh thấy mình phải lo cho vợ con sau này. Một niềm tin vào tương lai đã được gieo vào lòng mỗi người. Có vẻ như mọi người đều quan niệm rằng bằng cách sắp xếp nhà cửa cho may mắn và ngăn nắp, cuộc sống của họ có thể khác đi và công việc kinh doanh của họ sẽ tốt hơn. Chưa bao giờ hai mẹ con được ở trong một mái ấm hòa thuận như thế này. Nhưng bữa cháo, bữa rau và đặc biệt là nồi chè đắng đã đưa họ trở về thực tại. Chỉ có tình yêu và hy vọng mới không thể giúp họ vượt qua cơn đói này. Họ nên làm gì?

Hình ảnh và tin đồn Việt Minh đập phá kho thóc xuất hiện, muốn họ phải hành động, hãy hành động bằng chính sức lực của mình, hình ảnh những đoàn thể Việt Minh vượt lên mặc cảm đói nghèo, uất hận để chống trả quyết tâm sống. Khác với những tác phẩm văn học hiện thực phê phán trước đây, tác giả đã mở ra một vở kịch non sông cho họ không dễ dàng khi miêu tả gia đình Tràng tham gia cách mạng, nhưng lôgic cuộc sống sẽ cho họ thấy không còn con đường nào khác.

Tóm lại, “Người đàn bà nhặt nhạnh” đã thể hiện tình thương yêu, đùm bọc lẫn nhau của những người nghèo khó, giúp họ vượt qua muôn vàn hoạn nạn. Với tình huống truyện độc đáo, giọng văn mộc mạc giản dị, giàu sức gợi cảm. Qua tác phẩm “Vợ nhặt”, nhà văn Kim Lân đã bộc lộ giá trị nhân đạo của tác phẩm và làm sáng tỏ bản chất của cuộc sống: sự sống sẽ chiến thắng cái chết, sự tàn bạo. Trong cái chết, sự sống vẫn nảy mầm; trong nghèo khó, hạnh phúc vẫn vươn lên; trong lúc bế tắc, tương lai vẫn còn bỏ ngỏ.

Xem thêm: Anh (chị) hãy phân tích và chứng minh Tuyên ngôn độc lập là tác phẩm văn học mẫu mực thời bấy giờ