Để lại cây đa quê tôi

Để lại cây đa quê tôi

Hướng dẫn

Quê tôi là một thị trấn cửa biển. Cả xã có sáu thôn ôm trọn cửa biển, nên nói xã hướng biển, lưng tựa ruộng hay ngược lại là chính xác. Đình được xây dựng hướng Đông, hướng biển, phía Nam cổng đình là cây đa thế kỷ trầm tư được bao bọc bởi gió biển và cánh đồng lúa bát ngát.

Cây đa lớn tỏa bóng mát. Cây đa gốc chừng bốn năm người ôm không xuể. Gốc nhiều chỗ lồi, chỗ lõm thành vài lỗ. Ngay dưới gốc cây đa, những gốc cây đa màu nâu đen, to bằng cái bắp tay, nửa chìm, nửa nổi trên mặt đất, bò lan ra tứ phía, bám chặt vào mặt đất. Một phần rễ cây không chịu bám đất mà bò, ôm lấy rễ cây đa rồi đâm sâu xuống đất. Cây đa nguyên bản hùng vĩ như một bức khắc gỗ, chạm nổi một cách đáng kể. Thân cây đa vươn cao tới bốn, năm mét với từng chỗ lồi lõm của gốc. Thân cây phân thành nhiều nhánh to như cái đình, phình to, chỗ uốn lượn một cách nghệ thuật giống như một cây cảnh khổng lồ, được uốn cong rất công phu, vỏ cây màu nâu sẫm, xù xì, nổi nhiều cây to bằng vành khăn. nón lá. Từ trên cành, rễ phụ rủ thành từng chùm cao thấp quanh gốc cây, nhìn từ xa giống như bộ râu và mái tóc của một cụ già; Đến gần, những chiếc rễ bên trông giống như những chiếc sáo trúc, đung đưa trong gió. Cành cây đa đâm vô số cành, mang những chiếc lá đa dày cộp. Lá đa to bằng bàn tay em bé, giống lá bồ đề, lấp ló trong vòm cây. Cây đa lá dày đến nỗi không một ánh nắng nào có thể xuyên qua các kẽ hở và tràn xuống đất. Những vòm lá tròn dày như chiếc ô khổng lồ che mát cả một vùng đất rộng lớn mà vẫn khô ráo ngay cả khi trời mưa. Vào những buổi chiều vắng lặng hay những buổi chiều vắng lặng, đứng dưới gốc cây đa, tôi nghe thấy tiếng gió mát rượi, những tán lá rì rào như ai đó đang cười nói. Không gian lúc đó có vẻ u ám, có chút gì đó đáng sợ, có lẽ do tán lá quá dày nên đứng dưới gốc cây đa lúc chạng vạng, bên ngoài có vẻ tối hơn. Cái gốc lúc đó như một vực sâu khiến tôi có chút sợ hãi. Ngoài những buổi tối vắng vẻ, những lúc khác, dưới gốc cây đa luôn có một vài người ngồi thư giãn, trò chuyện hay tụ tập chăn cừu, nghỉ trưa, chơi đủ thứ trò chơi trẻ con.

Xem thêm: Bài văn tả cây xoài của gia đình em lớp 5.

Vào mùa xuân, cây đa mọc lên, những chiếc lá non đỏ rực. Những cành bồ công anh vút thẳng lên bầu trời. Những tán lá đa được chiếu sáng bởi muôn vàn lá cờ đỏ trên nền xanh thẫm của lá, những chồi da được soi màu lừa rồi dần dần chuyển sang màu xanh. Lúa đông xuân đã chín, sân đình chất đầy lúa, rơm rạ, những tán lá đa lúc này xanh mướt. Khi cánh đồng đã rạ, lúa đã cất và cây đa bắt đầu ra hoa. Hoa đa như búp chè, màu trắng ngà. Vào mùa hè, trái đa to bằng cái rá, chín đỏ au như quả bồ kết. Lúa hai phơi sân chung gọi chim bồ câu khắp đồng, cây đa gọi chim về chung trái chín. Trong tán lá đa, những đàn chim bay về đây, như thể cả đàn chim đã về. Họ ríu rít và cãi vã ầm ĩ. Đôi khi chúng im lặng, chỉ nghe tiếng lách cách, đôi khi chúng ríu rít ríu rít rất lâu. Tiếng chim hót ríu rít từ sáng sớm đến chiều tà. Cây đa càng tô thêm nét cổ kính cho đình làng. Tất cả dân làng, từ nhỏ nhất đến lớn tuổi đều xem cây đa là nơi linh thiêng như đình làng thờ thần làng. Ngày cúng, gốc cây thuốc được dọn dẹp sạch sẽ, kê bàn ​​ghế. Dân làng đã kê bàn ​​ghế ra sân sau đình. Từ quảng trường cây đa đến sân sau của đình, đây là nơi dân làng làm lễ, chia nhau thành quả, xôi, thịt cúng gia tiên. Chỉ là một nắm xôi, một vài cái bánh nhưng chứa đầy tình làng nghĩa xóm, kính trọng ông bà, tôn trọng lệ làng, lễ nghi trang nghiêm. Cây đa cũng đã chứng kiến ​​những vụ thu hoạch bội thu của bà con nông dân, những tràng cười sảng khoái và những tiết mục văn nghệ của các đội sản xuất. Đối với cá nhân tôi, cây đa là cả tuổi thơ của tôi: học tập, vui chơi, mơ ước về một tương lai tươi sáng và là hình ảnh ngôi làng thân yêu trong trái tim tôi.

Tháng năm này đã phát triển. Tôi sẽ mang hình ảnh cây đa bên mình trong mọi giai đoạn của sự nghiệp. Vì cội nguồn của truyền thống dân tộc, quê hương đã là nơi thân yêu, là thánh địa của mỗi con người. Cây đa đầu làng là hình ảnh của quê hương tha thiết này.

Nguồn: Vietvanhoctro.com

Xem thêm: Nét thư pháp lãng mạn trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân