Giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện Vợ chồng A Phủ qua hai nhân vật Mị và A Phủ

Đề: Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện Vợ chồng A Phủ qua hai nhân vật Mị và A Phủ

Nếu như “Dế Mèn phiêu lưu ký” của Tô Hoài có giọng văn trong sáng, hồn nhiên thì tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” lại mang đậm màu sắc dân tộc và thấm đẫm chất thơ trữ tình. Qua tác phẩm, nhà văn đã dựng nên hình ảnh hiện thực về hai kiếp người: Mị và A Phủ, những bức tranh ấy còn chứa đựng tấm lòng nhân đạo của Tô Hoài.

duch2 - Giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện Vợ chồng A Phủ qua hai nhân vật Mị và A Phủ

Tôi, một cô gái trẻ đẹp nhưng lại có cuộc sống “nhỏ bé” đáng thương. Bố mẹ cô ấy không trả được nợ nhà nên món nợ đó chuyển sang tay tôi. Vị thống đốc vũ phu này muốn biến tôi thành đứa con dâu “bịa chuyện”. Nhưng điều Thượng Quan muốn là điều Thượng Đế muốn, cô Mi lại trở thành vợ của Thượng Quan nhưng trong lòng lại mang một nỗi uất hận không thể giải thích được. Là một người vợ, cô ấy là một nông nô, không còn gì nữa, cô ấy mất hết quyền sống, quyền được coi là một con người. Ngày xưa tuy nghèo nhưng sống tự do, yêu thương, nay vẫn nghèo, vẫn lao động khổ sai chịu kiếp nô lệ qua đời nhà văn bộc lộ tấm lòng xót thương, chua xót cho số phận con người, đồng thời qua đó Tô Hoài cũng vạch trần bản chất giai cấp. khai thác. Người ta dùng quyền lực và tiền bạc để “cướp đàn đem về cho ma” nên người phụ nữ cũng bị “bóng ma” vô hình trói cả đời trong ngôi nhà này. Nếu chẳng may chồng chết thì phải làm vợ người khác trong gia đình, có khi là anh rể già, có khi là anh rể trẻ, chồng chết lại phải sống với vợ. chồng Một người đàn ông khác vẫn ở trong nhà. … Bạn phải ở trong ngôi nhà này đến hết đời.

Tôi đã khổ nhiều rồi, ở chốn địa ngục trần gian này, còn khổ hơn khi phải chấp nhận mình là kiếp trâu. Ngay cả những người cứng rắn cũng không khỏi xúc động khi đọc đến câu “Để ở lâu trong đau, mình từng khổ, Giờ nghĩ mình cũng trâu, mình cũng ngựa”… Chính là khó xoay xở để “quen dần” để rồi lương tâm con người bị tê liệt, mất đi “yếu tố xã hội” được coi là Dân tộc. Những tháng ngày tủi nhục tột cùng đã tước đi sức sống và tài năng của anh, tước đi những thất vọng tuổi trẻ trong “thời căng thẳng chờ người yêu”. Luôn và luôn như vậy, công việc cứ trải ra trước mắt, cứ làm đi làm lại những việc quen thuộc “Tết lên núi hái thuốc phiện, giữa năm rửa đay xe đay, khi mùa đến, ra đồng bẻ mì… Bao giờ cũng vậy, quanh năm Thương quá, cái khổ sắp bóp nát đời mình, sao không giết mình? Không phải vì “Có chết cha cũng khổ. hơn bây giờ. Tôi phải trở lại nhà thống đốc. “

Cuộc sống trong địa ngục khủng khiếp đã mài mòn trái tim yêu thương của tôi, giờ nó trở nên trơ trơ và vô cảm. Tôi chỉ biết vùi đầu vào công việc “lộn ngược như rùa đứng góc nhà”. Thế giới của tôi thu nhỏ lại thành một “ô cửa sổ vuông bằng bàn tay của tôi”. Mỗi lần nhìn ra bên ngoài chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay nắng. “Ý thức đã hoàn toàn thay đổi, tôi nhìn cuộc sống qua khung cửa sổ, nhưng tôi không biết gì ở đó, tôi đã quên mất điều đó. Tôi là con người! Rõ ràng Tô Hoài đã tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc biện chứng của chủ nghĩa hiện thực: hoàn cảnh tác động đến nhân cách của Mị. Người đàn ông, người lãnh đạo mạnh mẽ, Tô Hoài đã mở lòng chở che, đùm bọc, bênh vực người phụ nữ miền núi chịu hai tầng bóc lột. .

Xem thêm: Từ bài thơ Chia tay khi đi xa của Phan Bội Châu, hãy suy nghĩ về lòng “chí làm trai” của những người lớn tuổi và thanh niên ngày nay.

Hình ảnh hiện thực hoàn chỉnh hơn với sự xuất hiện của A Phủ, một chàng trai khỏe mạnh, cương nghị, lương thiện. A Fu bị đưa ra công lý chỉ vì những cuộc đánh nhau tầm thường có phải là điều phi lý? Nhưng vấn đề là: người đúng là người dân và người sai là con của quan, hơn nữa, quan lại là người xét xử vụ án. Vậy không biết “công lý” có còn ngự trị trước tòa không? Chỉ biết rằng A Phủ đang là cánh chim bay trên bầu trời tự do bỗng chốc bị nhốt vào lồng, trở thành nô lệ. Dường như cuộc đời của A Phủ ít nhiều lặp lại những biến thái của cuộc đời Mị. Đây là số phận chung của những người leo núi thời bấy giờ.

Nhắc đến tác phẩm là người ta nhắc đến giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Hiện thực vốn vẫn chưa hoàn hảo chỉ có tố cáo và phê phán, “nhân đạo” mà chỉ có yêu và ghét thì không phải là con người. Nhà văn phải hiểu nhân vật và tìm ra con đường tất yếu mà nhân vật phải đi. Tính cách nhân vật phát triển theo hoàn cảnh và được Tô Hoài phân tích theo con đường phát triển của tâm lí nhân vật. Tôi nghĩ đó là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo đặc sắc của tác phẩm. Tính cách Tôi bị tha hóa ở địa ngục trần gian là hợp lý, nếu tôi sống để làm một con người, tôi không thể sống nếu tôi muốn chết tôi không thể chết. Có phải tôi đang rơi vào tình trạng “sống dở chết dở”. Rồi tôi phải làm quen với điều đó, tự chịu đựng và làm cứng mình như một cái máy. Tôi có một lối thoát? Nếu có một tình huống làm tê liệt lương tâm của con người, thì có một tình huống để vực dậy một sinh mệnh trong trái tim của họ. Nghe có vẻ mơ hồ, nhưng đó là sự thật. Nước mắt của A Phủ chính là “hoàn cảnh” giúp tôi sống lại. “Trời về khuya, nhà vắng lặng, tôi dậy thổi lửa, lửa loang. Tôi liếc mắt nhìn thì thấy mắt A Phủ vừa mở. Một dòng nước mắt long lanh chui vào hốc tường. đôi má xám đen lại “Tôi hứng những giọt nước mắt đó và nhớ lại chính mình, tôi phải tự thắt cổ mình như thế và tôi cũng đã khóc” đã mấy lần khóc, nước mắt chảy dài trên miệng, xuống cổ, tôi không thể nào lau đi được. Giọt nước mắt là sự đồng cảm giữa hai con người Nước mắt của A Phủ nung nấu vết thương trong lòng tôi Tất cả như thôi thúc tôi cởi trói cho A Phủ, cả hai “lặng lẽ dìu nhau chạy xuống dốc núi, đến Phiêng Sa. .Sau đó, ít lâu sau, pháo đài phía Tây lại in bóng, hai cha con vào lại. Trước họ chỉ có một sự lựa chọn: trở về làm nô lệ hoặc đánh giặc. Cách mạng sẽ đến với họ và tôi Họ sẽ trở thành những nhà cách mạng.

Không dễ để phân biệt đâu là giá trị hiện thực và đâu là giá trị nhân đạo. Trên thực tế, cả hai trộn lẫn, đan xen vào nhau. Có căm thù nhà văn mới tố cáo thống lí Pá Tra, có thương cảm nhà văn mới viết được những câu văn đầy cảm xúc, mới thấu hiểu sâu sắc nhà văn trong đời sống tâm lí con người. Và Tô Hoài rất đồng cảm với nhân vật để có thể đánh giá một cách tinh tế đời sống tinh thần của tôi. Những ngày đầu ở nhà thống lý, tôi khóc ròng ròng hàng tháng trời, rồi định ăn lá cây để tự tử vì không thể chịu đựng được sự tủi nhục. Nhưng vẫn cố sống, sống gượng ép nhân danh đạo hiếu. Tôi nghèo về vật chất nhưng không thiếu thốn tình cảm, trái tim tôi vẫn cháy bỏng khát vọng được sống, được tự do. Nếu nhà văn lạnh lùng chạy theo chủ nghĩa hiện thực khách quan thì làm sao nhà văn có thể nắm bắt được khoảnh khắc ngắn ngủi ấy mà vẫn “tồn tại mãi mãi”? Rõ ràng, nhà văn Tô Hoài tuân theo chủ nghĩa hiện thực, nhưng ông cho rằng dù hoàn cảnh khó khăn cũng không thể đè bẹp hoàn toàn tình người. Hoàn cảnh ảnh hưởng đến tính cách nhưng không giết chết tính cách.

Nguồn Edufly

Xem thêm: Tình yêu thương giữa con người với con người được thể hiện qua tác phẩm “Nhặt vợ” của Kim Lân