Hai hình ảnh tương phản của cuộc sống – Bình giảng Ngữ Văn 7

Hai hình ảnh tương phản của cuộc sống – Bình giảng Ngữ Văn 7

Hướng dẫn

Bước sang thế kỷ 20, văn học Việt Nam nói chung và truyện kể (truyện ngắn và dài) nói riêng có nhiều đổi mới và mang tính hiện đại. Truyện ngắn hiện đại thiên về hư cấu, có cốt truyện phức tạp hơn, miêu tả nhiều hình ảnh, chi tiết sinh động nhằm khám phá bản chất của mối quan hệ con người, trong đời sống tâm hồn phong phú, tinh tế, hiện thực hơn truyện cổ tích, truyện ngắn, tiểu thuyết. của cũ. Một trong những tác phẩm mở đầu của thể loại truyện ngắn hiện đại là Chuyện Sống và Chết của Phạm Duy Tốn.

Tác phẩm kể về câu chuyện của một quan chức chính phủ có nhiệm vụ cai quản và dẫn dắt người dân đắp đê chống bão lũ ở một vùng sông nước phía Bắc trong một đêm đầu thế kỷ 20. Câu chuyện có thể được chia thành ba phần. Đoạn đầu: từ “Gần một giờ tối…” đến “… Con đê này bị vỡ”: nguy cơ vỡ đê và sự chống đỡ tuyệt vọng của người dân. Đoạn hai: Từ “Này dân…” đến “… Trời ơi”: quan và nhà đánh tổ tôm bằng cách “đi bảo vệ con đê”. Đoạn ba: đoạn còn lại: cảnh vỡ đê, lòng dân xót xa. Với nhan đề “Sống chết mặc bay”, dường như tác giả Phạm Duy Tốn muốn tập trung phát hiện, phê phán nghiêm khắc thái độ vô trách nhiệm, bỏ dân vào cảnh khốn cùng của một cán bộ nhà nước khi mới về địa phương. . công việc hộ đê. Khi đọc cuốn sách, chúng tôi nhận thấy nhà văn đã xây dựng những tình tiết khá kỳ cục, những tình huống tương phản, tăng cấp độ. Hai mặt trái ngược nhau là: trong khi người dân phải chống chọi với những căng thẳng, khó khăn cùng cực trước bão lũ thì các quan chức nhà nước lại cùng nhau, các vị tướng lãnh – chức sắc địa phương – lại nghiện game, không suy nghĩ. khá để chỉ đạo người dân “hộ đê”. Đúng là hai hình ảnh cuộc sống đối lập nhau, đối lập thật nổi bật, khiến người đọc phải suy tư, xúc động …

Hình ảnh đầu tiên cho thấy người dân chống chọi với bão lũ. Về phần thời gian, bây giờ là “gần một giờ tối”, có nghĩa là đã khuya, khi bình thường mọi người đều đã ngủ. Như vậy việc xác định thời điểm nửa đêm, người viết có ý nói rằng việc đắp đê bảo vệ của người dân nơi đây kéo dài cả ngày đến tận đêm khuya không ngơi nghỉ. Thật nặng nề và căng thẳng làm sao! Trong khi đó, mưa gió ngày càng mạnh. “Trời mưa như trút nước”, rồi “trời vẫn mưa như trút nước”. Kết hợp với mưa, nước sông cũng dâng cao ngày càng nhiều. “Nước sông Nhị Hà lớn quá” rồi “nước cứ cuốn”. Giữa cảnh trời nước dữ dội, dữ dội như vậy, công cuộc bảo vệ đê điều của nhân dân đã ra sao? Hỗn loạn, căng thẳng, vất vả, cực khổ, cực khổ, cực kỳ nguy hiểm! “Hàng trăm nghìn người … có người thuổng, có người cuốc, có người vác đất, có người vác tre, người xây, người đóng cọc, người chui qua bùn … người nào cũng trượt như chuột … trống đánh dồn dập, Ốc thổi không ngớt, tiếng người gọi nhau… ”. Ngôn ngữ mô tả rất được nhắm mục tiêu. Các tính từ và động từ nối tiếp nhau: “én … xốp … lăn, khiêng, khiêng, đùm, dắt, v.v.” », Kết hợp hình ảnh so sánh« ai nấy trượt như chuột lột »tạo cho người đọc cảm giác như đang thấy, đang nghe và đang sống giữa một vùng đê lũ thực sự. Bằng những từ, ngữ tả thực, người viết chỉ vào vài dòng cảm thán “trông thật khó xử … nếu không làm được thì sắp hỏng mất … Tình hình nhìn thê thảm quá … Chao ôi! Sức người khó mà có được. so với sức mạnh của trời. Lo thay! Nguy hiểm Sự yếu đuối của con đê, sức người trước thiên tai ngày càng bi đ vào trung tâm của cuộc đấu tranh để lay động lòng người và đánh thức những tình cảm tốt đẹp trong chúng ta.

Xem thêm: Mô tả loài cây yêu thích của bạn – Cây sấu

Hình ảnh đòi hỏi thứ hai, đối lập với cảnh người dân chống chọi với những khó khăn, gian khổ của lũ lụt, là của các quan chức nhà nước và tay chân của họ ăn chơi, vui chơi, để người dân … Sống hay chết. Trong bức tranh này, nhà văn còn dùng bút pháp tả thực, tả thực đến… lạnh lùng, về địa điểm, những vị quan này đang ngồi trong đình kiên cố, chuyện vỡ đê là đúng. Khung cảnh, tâm trạng êm đềm, trang nghiêm, mọi người đang lặng lẽ đập tổ tôm. “Đèn được thắp sáng rực rỡ; thiếu nữ, quân tử, nô tỳ… ”. Đặc biệt là hình ảnh của các quan chức chính phủ. Anh ấy “uy nghiêm, khắc kỷ. Tay trái chống đầu gối khuỵu xuống, chân phải duỗi thẳng để người nhà quỳ xuống đất, trầy xước… ”. Bên cạnh ông, xung quanh ông là những người lính đang chờ lệnh và những vật phẩm quý giá, đắt tiền như bát yến chưng đường phèn, mâm khảm, hộp đồi mồi đựng trầu vàng, cau, v.v. ống vôi chạm khắc, ống ngoáy tai, ví đựng thuốc, v.v. Đó là hình ảnh một phú ông giàu có, công danh dẫn dân đi hộ đê nhưng lại thích ra ngoài, phô trương sự giàu có của mình. Đúng là anh ấy đã đi… chơi! Giữa nỗi đau thương của nhân dân, vị quan và đồng bọn say sưa đắm mình trên chiếu bạc. Ngồi xung quanh anh, một đám tay chân âm thầm phục vụ Thượng Quan, tạo mọi điều kiện để Thượng Quan đoạt tiền. Ngay khi con đê sắp vỡ ra bên ngoài, nỗ lực của mọi người đã thành công, và Mandarin trông đợi vào trận đấu lớn. Cuối hình ảnh viên quan đang chờ lấy tiền, tác giả sử dụng nghệ thuật miêu tả cảnh thăng cấp rất ấn tượng, rất hồi hộp. Hình ảnh ngược lại vì thế càng gay gắt hơn. Nghe tiếng kêu xa trời có người khẽ nói: “Bẩm ơi, vỡ đê dễ lắm!”. Tên Thượng Quan gắt gao: “Mặc kệ hắn! “. Khi một đồng bào chạy đến báo “Đê vỡ lớn”, quan đỏ mặt quát: “Đê vỡ rồi!… Khi xa cổ ngươi đã bị giam cầm!”. Anh quên hết nhiệm vụ giúp dân chống lại cơn đại hồng thủy, để chỉ chờ một lá bài. Sự đối lập giữa sự xót xa của người dân, sự lo lắng của những người xung quanh và thái độ vô trách nhiệm của viên quan lên đến đỉnh điểm. Nhưng nó không dừng lại. Sự chống đối tiếp tục phát triển. Trong khi vị giáo sư đang nói “bàn tay đang run và dính trong đĩa nọc …” (nghĩa là nhân viên này và mọi người xung quanh rất sợ hãi cảnh vỡ đê), viên quan vui vẻ ném thẻ xuống trong khi vo ve. một đĩa lớn. Không chỉ vậy, anh còn vỗ tay và hét lớn, vừa cười vừa nói: “Này! Thông tôm, nảy chi chi! Trời ạ! “. Thế mới nói, tên quan liêu vô trách nhiệm này kêu lên sung sướng tột cùng khi được hưởng một số tiền lớn, trong khi nỗi thống khổ của người dân cũng ở mức độ sâu sắc khôn lường. Diễn biến câu chuyện đến đây thật căng thẳng, mâu thuẫn đối lập gay gắt, mâu thuẫn không thể dung hòa. Người đọc như bị cuốn vào câu chuyện và cũng cảm thấy căng thẳng, ngột ngạt, bức bối, đầy căm hờn, căm thù những người quan chức vô trách nhiệm, tham lam tiền bạc và đầy lòng trắc ẩn đối với những người dân nghèo bị cơ nhỡ, bị lãng quên, bị bỏ rơi … Giận và yêu, hai thứ tình cảm ấy dường như thấm đẫm trong từng câu từng chữ. Cuối truyện, nhà văn viết: “Chà, thời đại quan to, khắp vùng này nước tràn bờ, xoáy vào vực sâu, nhà trôi, ruộng ngập thì sống với ai. không nơi ở, người chết không nơi chôn, trôi nổi trên mặt nước, một bóng lẻ loi, tình cảnh thê thảm, biết nói sao! ” Câu văn dài, nhấn mạnh hai hình ảnh tương phản của cuộc sống, vừa kể vừa tả, vừa biểu cảm vừa biểu cảm. Nhịp điệu câu văn song song, đối xứng, hài hòa, thổn thức, xót xa xen lẫn những giọt nước mắt đau thương, xót xa.

Xem thêm: Thuyết minh về Oan Thị Kính qua đoạn trích Nỗi oan hại chồng của Quan Âm Thị Kính

Với sự tài tình trong việc sử dụng kết hợp hai phép tương phản và tăng cấp trong nghệ thuật, tác giả “Sống chết mặc bay” đã lên án gay gắt nỗi “lòng lang thang” của Thượng Quan trước cuộc đời của nhân dân và bày tỏ niềm thương cảm trước “muôn ngàn nỗi niềm. của những con người do thiên tai gây ra và cả bởi thái độ vô trách nhiệm của những người lãnh đạo.Hai bức tranh đời sống tương phản, tương phản này vừa thấm đẫm chất hiện thực vừa thấm đẫm cảm hứng nhân đạo, nhân đạo.

Xem lại bài giảng về nguồn gốc, nhiệm vụ và công dụng của văn học

Nguồn: Bailamvan.edu.vn