Phân tích 13 câu đầu bài Viết vội của Xuân Diệu

Phân tích 13 câu đầu bài Viết vội của Xuân Diệu

Hướng dẫn

Xuân Diệu được coi là người gần nhất trong số các nhà thơ mới. Những tác phẩm của anh mang đến cho người đọc tình yêu cuộc sống, niềm vui sống và khát vọng sống mãnh liệt. Vội vàng là một trong những tác phẩm thể hiện giá trị tư tưởng của tác giả, trong đó 13 câu đầu đã để lại ấn tượng khó phai trong lòng người đọc.

Với một tình yêu cuộc sống không thể cưỡng lại được, nhà thơ đã có một sự hiện diện trước cuộc đời ngắn ngủi. Khổ thơ 5 chữ duy nhất của bài thơ, phần lớn là các dòng 8 chữ. Thể loại thơ tám chữ gợi cho ta liên tưởng đến lối nói vốn có của Ca trù và cách dùng của Xuân thần, cùng nhau thể hiện một nét đặc sắc của thơ mới. Còn cách đặt câu thơ ngắn gọn trong trường hợp này tạo nên âm điệu gấp gáp như hơi thở gấp gáp của con người đầy cảm xúc. Mặt khác, Xuân Diệu lần đầu tiên đặt những câu có hai từ lẻ “tôi muốn”, chủ đề trữ tình ngay lập tức xuất hiện. Nhà thơ bộc lộ cái tôi một cách công khai, ngang nhiên mà không che giấu hay che giấu, cái tôi bất chấp, không giống như thơ trung đại, rất ít người dám bộc lộ cái tôi. Cái cách mà nhà thơ công khai khơi gợi thẩm mỹ thơ của thời đại trước là thể hiện cái tôi trong khát vọng lớn lao, cái tôi muốn chiếm đoạt quyền của tạo hóa để làm những việc mà chỉ thiên nhiên mới có thể làm được như “dập tắt” ánh mặt trời. “và” cuốn theo chiều gió “. tất cả đều có từ” cho “.

Màu không phai,

……

Để hương không bay mất.

Vì yêu cuộc sống, tác giả luôn nhìn thấy vẻ đẹp của cuộc sống trong con mắt của tác giả nên nhà thơ muốn giữ mọi thứ cho riêng mình. Những câu thơ gợi cảm giác lo lắng rằng vẻ đẹp sẽ giảm đi hương sắc, sắc nắng sẽ bớt rực rỡ nếu có nắng, và hương thơm sẽ bớt nồng nàn nếu có gió thổi. Nhưng niềm khao khát ấy càng mãnh liệt hơn khi nhà thơ dùng hai lần từ “không” – chứa đựng một khát vọng chân thành. Từng chữ trong bốn câu thơ đều nói lên khát vọng sống vô hạn, đến mức trở nên điên cuồng, tham lam, muốn giữ lại cho mình và cho đời cái đẹp, cái sống trong tạo vật.

Xem thêm: Trình bày vài nét về Đỗ Phủ, xuất xứ, bố cục và chủ đề của bài thơ “Vinh quy bái tổ” của

Tiếc đời nên phải sống vội, sống vội, tư tưởng này của nhà thơ còn được thể hiện trong nhịp thơ, thể hiện ở việc câu thơ năm chữ bỗng chốc biến thành tám chữ. Một sự chuyển biến rất đẹp của bài thơ, mở ra trước mắt người đọc một bức tranh mùa xuân tráng lệ. Trong bốn dòng thơ này tràn ngập những chữ “đây” rải rác qua các dòng thơ, vừa trùng lặp vừa thay đổi. Những câu thơ gợi hình ảnh một con người say đắm, đắm say, xao xuyến trước mùa xuân mở ra trong cuộc đời. Đó không chỉ là hình ảnh của mùa xuân, màu sắc của mùa xuân, tình yêu của mùa xuân mà còn là cách tác giả nói về nhiệt huyết cho một thời thanh xuân của tuổi trẻ và tình yêu. Vì vậy, không có loài vật nào khác ngoài “bướm, chim yến”, vì nó gợi sự tán tỉnh, tình yêu, còn “bướm” gợi mùa xuân và tình yêu. Âm nhạc của tình yêu, và hơn thế nữa, “tình yêu”, gợi lên sự mê đắm. Hơn nữa, từ “of” trở lại với “here and here” giống như một cặp đôi không thể tách rời. Đây là cách Xuân Diệu thể hiện tình cảm của mình về thiên nhiên luôn có đôi có cặp, vạn vật hòa quyện vào nhau, thuộc về nhau không thể chia lìa. Tất cả đều mang vẻ đẹp của tuổi thanh xuân và tràn đầy sức sống. Những “bông” nở trên nền “xanh” của cánh đồng mênh mông, những “cành” tơ của lá căng tràn sức trẻ, sức sống. Cảm giác trẻ trung và dịu dàng này càng được tôn lên trong vần “lụa swat” ở mặt sau. Như vậy, cuộc sống hiện ra như vườn địa đàng, trong cảm giác vui sướng trần gian. Giá trị nhân văn của những câu thơ và của cả bài thơ là ở đó.

Nếu bốn dòng trên dường như cân đối, trọn vẹn thì câu thứ chín lại xuất hiện ba chữ “rồi đấy”, lòng người như vẫn chưa bằng lòng, chưa muốn dừng lại, đầy xúc động, nuối tiếc, muốn bày tỏ. tất cả niềm vui của cuộc sống. Nhưng chúng không còn là những hình thức cụ thể như “lá, hoa, bướm” mà là những hình ảnh trừu tượng của ánh sáng, niềm vui, thời gian – những vật thể không hữu hình. Đó cũng là một cách để nhà thơ thể hiện một quan điểm thẩm mỹ mới mẻ, thú vị. Thiên nhiên không còn là tiêu chuẩn của cái đẹp trong thiết kế của Xuân Diệu. Vẻ đẹp của thiên nhiên chỉ được coi là đẹp khi nó có sự xuất hiện của vẻ đẹp con người. Ánh sáng đẹp vì nó gợi lên “hàng mi” của một đôi mắt đẹp. Niềm vui đẹp bởi nó gợi lên hình ảnh của một vị thần, đại diện cho con người. Và cảm xúc thẩm mĩ được dâng cao trong câu thơ Tháng Giêng, gợi lên vẻ đẹp của sự táo bạo, say mê và ngỡ ngàng trong lòng người đọc.

Xem thêm: Như Âu Cơ kể chuyện con Rồng cháu Tiên.

Tháng giêng ngon lành như đôi môi kề môi.

Trong mắt người xem, mùa xuân hiện lên thật đẹp, thật gợi cảm. Vì vậy, mùa xuân như sinh ra để con người hưởng thụ, mang đến cho con người hạnh phúc, tạo nên một khía cạnh khác trong tâm hồn nhân văn của bài thơ. Ở đó, cái quý giá và cao đẹp nhất của con người là chính con người. Vì vậy, con người là bản thể cao nhất chứ không phải thiên nhiên, tôn giáo hay một chuẩn mực đạo đức nào. Con người trong câu thơ này đã được tôn lên như một chuẩn mực thẩm mĩ khiến người đọc không khỏi ngỡ ngàng, sửng sốt. Tác giả đưa ra ý tưởng về tháng trẻ nhất của mùa trẻ nhất trong năm: “Tháng giêng”. Nhưng điều bất ngờ đến từ từ thứ 3 – “ngon”, điều mà ít ai có thể ngờ tới. Và không ai có thể nghĩ rằng tác giả lại so sánh với “đôi môi khép hờ”. Nhưng với cách ví von này, thời gian trừu tượng kéo đến gần hơn, để mùa xuân hiện về trong cảm xúc của một tâm hồn khao khát được tận hưởng nó. Vẻ đẹp của thanh xuân dường như đã bị chiếm hữu hoàn toàn.

Hình ảnh so sánh này như một con người đang chờ đợi, sẵn sàng trao gửi yêu thương. Và hẳn là một tình yêu đời tha thiết thực sự tác giả mới tạo nên một hình ảnh lạ lùng như vậy.

Xem thêm: Trích Đoạn Phân Tích Chèo Xuyên Vân Chơi Hoang Trong Vở Chèo Kim Nhân

“Tôi hạnh phúc”

Giọng nói chắc chắn được thốt ra sau khi mọi thứ được viết ở trên. Nhưng sau ba chữ này, giữa câu lại có dấu chấm, khiến niềm vui này dường như bị ngắt quãng, bị dừng lại giữa chừng trở thành niềm vui dang dở, không trọn vẹn. Vì sau dấu chấm là một từ “nhưng” dự báo một cảm xúc hoàn toàn mới. Nỗi ám ảnh về sự vội vàng xuất hiện trong hiệp hai. Nhà thơ dường như chưa thể tận hưởng trọn vẹn mùa xuân bởi cảm giác nhớ nhung ngay cả khi mùa xuân chưa hết. Và cảm xúc của nhà thơ đã đi về phía đối lập, một phản đề xuất hiện:

Nhưng vội vàng một nửa.

Ai đã nghe hai câu đầu của bài đối đều có ấn tượng sâu sắc.

Mùa xuân đang đến có nghĩa là mùa xuân đang đi qua

Một mùa xuân trẻ có nghĩa là mùa xuân sẽ già.

Cái mới, cái táo bạo, cái khám phá lớn nhất của hai câu thơ nằm ở hai chữ “nghĩa” tưởng như tầm thường, khiến câu thơ hiện lên như một bình đẳng nghệ thuật. Tác giả đã mạnh dạn đặt dấu bằng ở hai vế dường như đối lập: “tới” đối với “qua”, “trẻ” đối lập với “già”. Một cách nói ấn tượng như vậy đã vượt qua thời gian vô hạn. Điều này càng có ý nghĩa hơn đối với một người có cuộc đời đồng nghĩa với tuổi trẻ, được biểu thị bằng phương trình thứ ba:

Và cuối mùa xuân có nghĩa là tôi cũng chết.

Nhà thơ đã tái hiện một khung cảnh rất lãng mạn, một thiên đường dưới lòng đất. Trong con mắt của nhà thơ, cuộc đời thật đẹp và đáng sống, nhưng cuộc đời ngắn ngủi lắm nên phải sống vội vàng mới có thể tận hưởng hết những niềm vui, hạnh phúc của cuộc đời. Chính tư tưởng lạc quan yêu đời mà tác giả đã tạo ra cho thế hệ trẻ, họ cần phải sống đúng mực, đừng để lãng phí tuổi trẻ của mình một cách vô ích.

Nguồn: Vietvanhoctro.com