Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc

Đề: Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

Bài thơ về xứ Huế mộng mơ Đây thôn Vĩ Dạ đã để lại cho chúng ta rất nhiều kỉ niệm đẹp về cảnh sắc hữu tình của xứ Huế, về con người xứ Huế và đặc biệt là mối tình lãng mạn của một đời thơ, một kiếp người – Hàn Mặc Tử.

“Mở cửa ra xem trăng, trăng nhạt,

Đóng cửa phòng để thắp nến, nến sẽ rơi … “

Ai đã từng say trăng như Hàn Mặc Tử? “Vầng trăng nằm hờ trên cành liễu – Chờ gió đông về thả hồn…” (“Thẹn thùng”) – Nhà thơ cũng nói đến thuyền trăng, sông trăng, bến trăng… Sự cả mặt trăng mơ màng và huyền diệu. Thơ của Hàn Mặc Tử tràn ngập ánh trăng, thể hiện tâm hồn “say trăng” với tình yêu tha thiết với cuộc sống vừa thực vừa mộng. Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới (1932-1941). Năm 28 tuổi (1922-1940), ông đã để lại hàng trăm bài thơ và một số tập thơ cho nền thơ ca dân tộc. Thơ của ông dường như chảy máu và nước mắt, có rất nhiều hình ảnh kinh dị. Chưa có ai viết thơ hay về mùa xuân thiếu nữ (“Mùa xuân chín”), Huế đẹp và thơ (“Đây thôn Vĩ Dạ”) như Hàn Mặc Tử.

2ftru - Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

“Đây thôn Vĩ Dạ” được trích từ tập “Thơ điên” xuất bản năm 1940, sau khi nhà thơ qua đời. Bài thơ nói rất hay về xứ Huế, phong cảnh thiên nhiên hữu tình, con người xứ Huế, đặc biệt là những cô gái duyên dáng, đằm thắm, đáng yêu – một tình yêu nồng nàn, thơ mộng lấp lánh trong ánh huyền ảo. . Đoạn thơ thể hiện một nỗi nhớ, một khát vọng về hạnh phúc của nhà thơ trong tình yêu nhiều nhân duyên với cảnh và người Vĩ Dạ.

Câu đầu tiên “ngọt ngào” như một lời mời gọi, vừa vui mừng gặp lại vừa nhẹ nhàng trách móc người thương vì đã lỡ chờ đợi bao nhiêu. Giọng thơ nhẹ nhàng, đằm thắm, tình cảm: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Có xa. Cảnh xưa của người xưa thấp thoáng trong những vần thơ đẹp với bao hoài niệm. Bao kỉ niệm hiện về trong hồn thơ. Nơi đây gắn liền với cảnh sắc miệt vườn và con người xứ Huế mộng mơ:

“Nắng mới hàng cau, cau có, ngước nhìn

Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc.

Bìa ngang lá tre đủ phông?

Khung cảnh được đề cập là một buổi bình minh tuyệt đẹp. Ngắm nhìn từ xa, say đắm nhìn những đỉnh cau, đoàn tàu cau tỏa sáng dưới ánh nắng mới chói chang, “nắng mới”. Những hàng cau như chào đón những người thân yêu của mình sau bao ngày xa cách. Hàng cau nở rộ đã là hình ảnh quen thuộc của thôn Vĩ Dạ từ bao đời nay. Quên màu xanh lá cây ở đây. Nhà thơ đã thốt lên ngỡ ngàng trước một khu vườn xanh mát ở Đây thôn Vĩ Dạ “Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc”. Sương đêm ướt đẫm cây cỏ, hoa lá. Màu xanh bóng nhờn, non tơ, sáng ngời dưới ánh hồng mai, có nét “nhẵn nhụi” xanh như ngọc. Đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa, con người cần cù chăm chỉ làm văn hóa mới có được “sắc xanh như ngọc” ấy. Thiên nhiên năng động, tươi trẻ và tràn đầy sức sống. Cũng nói về mùa xanh ngọc bích, trước đó (1938) Xuân Diệu đã viết: “Đổ trời xanh ngọc qua kẽ lá…” (“Bài thơ khá”). Hai chữ “miệt vườn” đã gây nhiều bất ngờ và khó hiểu. Câu thứ tư tả thiếu nữ miệt vườn xuân: “Lá tre che mặt chữ điền”. Khuôn mặt trái xoan, khuôn mặt hoa mỹ mới đẹp. Khuôn mặt đầy đặn, khuôn mặt đầy đặn, khả ái. “Chiếc lá trúc nằm ngang” là một thiết kế thần thánh thể hiện vẻ đẹp của người con gái Huế duyên dáng, dịu dàng, thùy mị và đằm thắm. Hàn Mặc Tử đã hơn một lần nói về cây tre và người con gái. Những búi tre như một sắc xanh dịu mát che chở cho một tình yêu đang chớm nở tươi đẹp:

“Thì thầm với người ngồi dưới gốc tre

Nghe có vẻ thông minh và ngây thơ ”.

(Mùa xuân chín)

Câu 3 và 4 của khổ thơ đầu tiên tả hàng cau, nắng mới, vườn xuân, lũy tre và những thiếu nữ ánh sáng, ẩn hiện, mơ hồ. Đặc sắc nhất là hai hình ảnh ví von và ẩn dụ. (xanh như ngọc… đầy mặt). Cảnh và người ở Đây thôn Vĩ Dạ thật dễ mến, thân thiện và dễ mến.

Xem thêm: Hãy phân tích đoạn thơ sau: “Tôi yêu em, tôi yêu em: chừng nào ngọn lửa tình vẫn chưa tắt; Nhưng anh đừng để mình lo lắng nữa, Hay tâm hồn anh phải có bóng tối… Mong anh có được người yêu như em đã yêu ”1829 – Pu – skin

Vĩ Dạ – một làng quê nằm bên bờ sông Hương, ngoại ô cố đô Huế. Vĩ Dạ đẹp với những con thuyền thơ mộng, vườn cây bốn mùa xanh tươi, trĩu quả. Những ngôi nhà xinh xắn thấp thoáng sau những hàng cau, rặng tre, nơi thường cất lên những câu hát Nam ai, Nam bình qua tiếng đàn tranh, đàn tranh thần và tiếng đàn tranh. Đây thôn Vĩ Dạ thật đẹp và thơ mộng. Hàn Mặc Tử đã tặng Vĩ Dạ một bài thơ đẹp nhất bằng tất cả tình cảm yêu thương của mình.

Khổ thơ thứ hai nói về bầu trời, mây và sông. Một không gian nghệ thuật thoáng đãng, mơ hồ và xa xăm. Câu 5 và câu 6 là hình ảnh tượng trưng cho gió, mây, sông và hoa (hoa ngô đồng). Giọng nói nhẹ nhàng, hài hòa và sống động. Mây gió cuốn trôi như tình thơ, tưởng gần mà xa, thật xa. Con sông Hương chảy nhẹ nhàng, trong tâm tưởng của thi nhân trở nên “buồn” và đầy nỗi buồn. “Hoa ngô khóc” khẽ đung đưa trong gió. Nhịp điệu thơ mộng ngọt ngào của hai miền sông Hương và núi Ngự được miêu tả vô cùng tinh tế. Những gợi liên tưởng gợi nhiều mơ mộng vướng víu:

“Gió theo gió, mây theo mây”

Mặt nước buồn, những hàng quất đung đưa ”.

Hai câu tiếp theo, nhà thơ hỏi “ai” hoặc băn khoăn khi nhìn thấy hay nhớ về con thuyền mộng nằm trên bến sông trăng. Sông Hương quê tôi đã trở thành sông Trăng. Hàn Mặc Tử với tình yêu của mình dành cho Vĩ Dạ đã tạo nên một bài thơ tuyệt đẹp trên sông Hương với những chiếc thuyền dưới trăng. Nguyễn Công Trứ đã từng viết “Gió trăng chứa đầy tàu”. Hàn Mặc Tử cũng đã đóng góp cho nền thơ Việt Nam hiện đại một câu thơ lục bát độc đáo:

“Thuyền ai neo bến sông trăng.

Đêm nay tiếp tục đeo trăng? ”

Tâm hồn nhà thơ rộn ràng khi nhìn trăng và con thuyền. Thuyền tôi hay “thuyền ai” vừa quen thuộc vừa xa lạ. Chất thơ kì ảo “Đây thôn Vĩ Dạ” chính là những chất thơ ấy. Câu thơ gợi lên hồn thơ khiến ta như bay bổng trước vẻ đẹp hữu tình của xứ Huế miền Trung, thể hiện một tình yêu thầm kín, ngọt ngào, thơ mộng và buồn man mác.

Khổ thơ thứ ba nói về cô gái Huế và tâm trạng của thi nhân. Sinh thời, nhà thơ Nguyễn Bính đã viết về những cô gái sông Hương: “Gái sông Hương – Hương thơm làn da phấn, má hồng son phấn”… Vĩ Dạ mưa nhiều, sáng tối sương mù bao phủ. . “Sương khói” ở Đường Thi thường gắn với nỗi nhớ. Nơi đây sương mù làm mờ mờ tà áo trắng của anh, nên em không nhìn thấy bóng dáng anh (hình người). Người phụ nữ Huế e ấp, trong trắng, kín đáo và duyên dáng. Gần mà xa, thực mà mơ. Câu thơ ngập ngừng, ảm đạm. Ta biết rằng Hàn Mặc Tử đã từng có một mối tình với một cô gái Huế được mệnh danh là một loài hoa xinh đẹp. Phải chăng nhà thơ muốn nói đến tình yêu này?

“Khách xa ơi, khách đường xa

Áo sơ mi của tôi quá trắng để nhìn thấy

Ở đây sương mù mờ ảo

Ai đó biết cái táo bạo? “

“Mộng khách phương xa, khách phương xa… ai biết… ai có”, những ẩn ý đan xen này tạo nên một giai điệu sâu lắng, êm dịu và mênh mang. Người đọc càng thương cảm cho chàng thi sĩ tài hoa, đa tình nhưng kém may mắn, trót yêu nhiều mối tình nhưng cả đời phải sống trong cô độc.

Cũng cần nói đôi lời về từ “ai” trong bài thơ này. Cả 4 lần từ “ai” xuất hiện đều mơ hồ đầy ám ảnh: “Vườn ai xanh như ngọc”. – “Thuyền của ai đã cập bến sông trăng này?” – “Có ai biết cái táo bạo không?”. Người mà nhà thơ đang nói đến là một người đã đi xa, trong nỗi nhớ da diết. Nhà thơ vẫn cảm thấy lạc lõng, đùa giỡn với tình yêu đơn phương mơ mộng. Một niềm hy vọng mờ mịt nhưng chân thành dường như tan dần và tan theo làn sương mù?

Hàn Mặc Tử đã để lại cho tôi một bài thơ tình đẹp. Cảnh và người, mộng và thực, say mê và buồn, ngỡ ngàng và bâng khuâng… những hình ảnh và cảm xúc đẹp hội tụ trong ba khổ thơ thất ngôn tứ tuyệt và những câu thơ lục bát. “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bài thơ tình tuyệt vời. Màu xanh ngọc bích của vườn Ai, Ai đi thuyền trăng sông, màu trắng áo bạn như dẫn hồn tôi về miền khói sương thôn Vĩ Dạ một thời đã xa:

“Đây sương mù mờ mịt

Ai đó biết sự táo bạo?

Nguồn Edufly

Xem thêm: Phân tích tình huống độc đáo, hấp dẫn của truyện Người đàn bà được chọn của Kim Lân