Phân tích bài thơ Ông đồ

Đề: Phân tích bài thơ Ông đồ

Xưa kia, trên bàn thờ gia tiên, bên cạnh đôi bánh chưng, mâm ngũ quả là những đôi câu đối Tết. Đó là lý do tại sao các ông đồ già trên vỉa hè phố phường rất đông người viết chữ, và hình ảnh ông đội khăn đóng áo the đã khắc sâu vào tâm trí hàng triệu người Việt Nam, trong đó có nhà thơ họ Vũ. Đinh Đặc quyền. Sau đó tác giả viết bài thơ ‘cố nhân’ với niềm thương cảm sâu sắc cho thân phận cụ già, cho một lớp người tan nát và tiếc nuối cho một truyền thống cao đẹp của dân tộc.

Ongdovdlien - Phân tích bài thơ Ông đồ

Phân tích bài thơ Ông đồ

Mở đầu bài thơ, hình ảnh cụ già hiện lên trong dòng suy nghĩ và niềm mong mỏi của tác giả:

Mỗi năm hoa đào nở

Hơn đồ chơi cũ của anh ấy

Giấy được in bằng mực đỏ

Bên trong một con phố đông đúc

Cấu trúc của mỗi .. cho chúng ta thấy có một hình ảnh rất quen thuộc với người Việt Nam mỗi độ Tết đến xuân về. Với sắc thắm của hoa đào, sắc đỏ của giấy, màu đen tuyền của mực Tàu cùng với không khí nhộn nhịp, náo nhiệt của ngày Tết, hình ảnh ông đồ đã trở thành không thể thiếu trong bức tranh xuân. Lời thơ chậm rãi nhưng đầy tình cảm. Dù chỉ chiếm một góc phố nhỏ nhưng trong bức tranh thơ ông cụ là trung tâm, ông đã hoàn toàn hòa mình vào không khí sôi động của ngày Tết bằng những tài lẻ theo ý mình:

Có bao nhiêu người thuê nhà đã viết

Tấm tắc khen ngợi người dùng

Hoa bằng tay với nét vẽ

Như rồng phượng múa

Bao nhiêu từ cho phép người đọc thấy rằng anh ấy được yêu thương bởi tất cả. Sự hiện diện của anh thu hút sự chú ý của mọi người, anh là trung tâm của sự kính trọng và ngưỡng mộ. Hạnh phúc đối với anh là không chỉ có nhiều người thuê anh viết mà còn được khen ngợi về tài năng của anh – Vì anh viết rất đẹp. Ba phụ âm ‘t’ xuất hiện trong câu như một tràng pháo tay khen ngợi tài năng của anh. Giữa những con người đang chờ đợi ấy, anh hiện lên như một người nghệ sĩ say mê, sáng tạo, thể hiện hết tài năng và tâm huyết của mình nên được mọi người vô cùng ngưỡng mộ, với sự ngưỡng mộ này, Vũ Đình Liên vẫn thể hiện được niềm tự hào về truyền thống cao đẹp của dân tộc. ghép từ. Nhưng có bao nhiêu người viết có thể hiểu được ý nghĩa sâu xa hơn của từng câu, từng chữ để có thể chia sẻ niềm vui và hạnh phúc với người đã viết ra những dòng chữ đó? Trong khổ thơ 3, hình ảnh ông lão với giấy đỏ vẫn nổi bật, nhưng mọi chuyện đã khác. Không có nhiều người thuê để viết. Chiến thuật ca ngợi tài năng, nhưng nó là một cảnh hoang tàn và thê lương hơn. Trong khi cảm xúc buồn man mác trong hai câu thơ trên, thì cảm xúc ấy giờ đây được thể hiện qua câu hỏi day dứt:

Nhưng năm nào cũng thiếu

Người thuê viết cái này ở đâu?

Năm nào cũng vậy, nhưng sau từ but- chữ thường làm đảo lộn trật tự quen thuộc. Số người còn một chút yêu quý chữ Nho nay đã vắng bóng năm nào, khách quen cũng thưa dần. Thế rồi, một niềm hy vọng nhỏ nhoi từ ông lão để mang lại niềm vui nho nhỏ cho mọi người mỗi dịp tết đến xuân về cũng dần vụt tắt và cuộc sống của ông lão ngày càng khó khăn hơn. Bằng một câu hỏi tu từ rất độc đáo, Vũ Đình Liên đã bày tỏ sự tiếc nuối cho một thời vàng son mà sau này thành nỗi buồn, một nỗi buồn len lỏi cả những vật vô tri vô giác:

cánh hoa giấy đỏ buồn

Thuốc bổ tìm kiếm sự thương tiếc

Giấy đỏ là loại giấy dùng để viết chữ, nó là một loại giấy rất mỏng manh, chỉ cần ẩm một chút là sẽ bị phai màu. Tuy nhiên, “Trang giấy đỏ buồn không sáng” – không tươi sáng vì lâu ngày không sử dụng nên phôi phai theo năm tháng. Cũng như vậy đối với loại mực – đó là loại mực sậm màu mà chủ nhân viết lên, trước khi sử dụng chúng ta phải mài mực sau đó dùng bút lông để vẽ theo các đường nét. Nhưng nay “Mực ngự sở sầu” nghĩa là mực đã có từ lâu, sẵn sàng cho đôi bàn tay tài hoa của mình trổ tài nhưng chờ đợi trong vô vọng. Những câu nói buồn, sầu nhớ như thổi hồn sự sống vào vạn vật bằng nhân hóa đã khiến giấy đỏ, mực vốn vô tư trước đây bỗng trở nên có hồn, có suy nghĩ như một con người. Nỗi buồn này của ông lão không chỉ thấm vào những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống mà tình cảm của ông còn tràn vào cảnh vật thiên nhiên, cảnh vật khiến không gian thật buồn, thật thương:

Xem thêm: Kể cho tôi nghe về một kỷ niệm thời thơ ấu đáng nhớ

Ông già vẫn ngồi đó

người qua đường hoặc

Lá rơi trên giấy

Ngoài giời mưa bụi

Dù không còn được người đời yêu mến, kính trọng nhưng ông vẫn kiên trì cố gắng ngồi bên vệ đường để chờ đợi sự giúp đỡ của mọi người. Nhưng ngoài đường chẳng có một ánh mắt nào để ý đến anh, không một tấm lòng đồng cảm và chia sẻ với anh. Khi tả cảnh ngụ tình, nhà thơ Vũ Đình Liên đã cho ta thấy một cảnh thiên nhiên thật đáng thương, xót xa trước tâm trạng của ông lão:

Lá rơi trên giấy

Ngoài giời mưa bụi

Nhưng không hiểu sao cứ đến mùa xuân là có lá vàng rơi? Phải chăng hình ảnh chiếc lá vàng rơi đã gợi lên sự lụi tàn, bạc màu của một thời đại, một lớp người trong xã hội, một phong tục đẹp của dân tộc Việt Nam là ăn chơi trác táng trong ngày Tết nay đã qua. Hình ảnh ông lão giống như hình ảnh lá vàng rơi, ông cố níu kéo cuộc sống lặng lẽ của mình, nhưng so với thời đại mới, con ong chỉ là chiếc lá khô héo rơi. Nỗi buồn trong im lặng này, tê tái bởi cơn mưa xuân vốn có sức sống mãnh liệt, cũng trở nên u uất.

Ngoài giời mưa bụi

‘Trời ơi đất hỡi’ – đó là câu nói cửa miệng của người xưa, kể cả người xưa. Đoạn thơ gợi lên tâm trạng buồn của ông lão trước cơn mưa bụi nhẹ. Dù chỉ là mưa, bụi nhưng cũng đủ xóa đi dấu vết của một lớp người. Dù cố nhân không còn được người đời yêu mến, ngưỡng vọng nhưng đối với nhà thơ, hình ảnh cố nhân vẫn khắc sâu trong tim:

Cây đào năm nay lại nở hoa

Không nhìn thấy đồ chơi cũ của anh ấy

Bài thơ bắt đầu bằng một hình ảnh rất nhẹ nhàng và kết thúc bằng một hình ảnh rất mềm mại. Ngày xưa, khi hoa đào nở ta đã thấy cụ già ngồi bên đường hòa mình vào cảnh nhộn nhịp của phố phường. Nhưng giờ đây, đồng thời, anh không còn nữa, hình ảnh của những người đồng đội cũng đang dần mất đi theo dòng thời gian. Tết đến xuân về, hoa đào lại nở rộ, người dân nô nức đi chợ sắm Tết mong một năm tràn đầy niềm vui và hy vọng. Tất cả đều rạo rực, tưng bừng. Sân khấu ở đó, nhưng con người ở đâu? Giờ đây hình ảnh ông Đồ chỉ còn là một di tích đáng thương của một thời đại đã qua, ông đã bị người đời lãng quên và ruồng bỏ ngoại trừ một nhà thơ Vũ Đình Liên. Dòng đời cứ trôi đi, muôn đời bình yên tươi đẹp giờ chỉ còn lại nỗi trống vắng, u buồn nên nhà thơ cũng phải bật lên thành một câu hỏi đầy xúc động:

Muôn năm cũ

Linh hồn bây giờ ở đâu?

Hai dòng thơ cuối tác giả bộc lộ trực tiếp những cảm xúc dâng trào, cô đọng với chiều sâu khái quát. Từ hình ảnh ông đồ, nhà thơ liên tưởng đến hình ảnh các cụ già, nhà thơ hỏi và hỏi một cách chua xót: hỏi trời, hỏi mây, hỏi đời, hỏi thời đại, hỏi mà thương cho thân. . số phận của con người cũ, của những con người cũ, đã bị thời gian chối bỏ. Câu hỏi tu từ được đặt ra như một câu hỏi tự vấn, tiềm ẩn sự ngậm ngùi, xót xa. Và tất cả mọi thứ từ một thời vàng son chỉ là màu nhạt nhòa, tê tái. Với việc sử dụng thành công phép tu từ, nhà thơ Vũ Đình Liên đã tái hiện lại hình ảnh người ông với những di vật đáng thương của một thời đã qua, khiến chúng ta càng thêm thương cảm, xót xa cho thân phận một người ông.

Chỉ với một bài thơ ngắn gọn bằng năm thứ tiếng, tác giả đã khơi dậy niềm khao khát khôn nguôi trong lòng người. Đọc bài thơ, ta cảm nhận được Vũ Đình Liên – một con người giàu lòng nhân ái, nhân ái, đồng cảm và thủy chung sâu sắc.

Nguồn Edufly

Xem thêm: Cảm nhận câu chuyện Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Tản Viên trọng án – Trích Truyền kì mạn lục – Nguyễn Du)