Phân tích bài thơ “Thiên trường vạn tuế” của Trần Nhân Tông.

Phân tích bài thơ “Thiên trường vạn tuế” của Trần Nhân Tông.

Hướng dẫn

Trong một số bài thơ bằng chữ Hán của Trần Nhân Tông, có hai bài viết về Thiên Trường, vùng đất “Phát tích sự nghiệp” của nhà Trần: “Hành Thiện Trường Hành cung” và “Thiên Trường Vân Vọng”.

Thiên Trường là một trong 12 lộ của thời Trần, thuộc Sơn Nam; nay thuộc ngoại thành Nam Định. Thiên Trường vốn là dinh thự của các vua Trần, nơi đây xưa kia có rất nhiều cung điện nguy nga.

‘Thiên Trường Vân Vọng’ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật (Lời Trăm, vần trắc). Đoạn thơ miêu tả cảnh làng quê, vùng quê Thiên Trường qua con mắt và cảm xúc của Trần Nhân Tông. Cảm xúc lắng đọng, một ánh mắt u sầu bao trùm lấy cảnh vật:

‘Ngôi làng phía sau, ngôi làng của tiền bạc, sự gần gũi yên tĩnh,

Để bán, để bán, để bán.

Mu dong, kẻ thù của con bò, đầu hàng anh ta,

Đường trắng song song Phi Hà Điện ‘

Cách đây hơn 60 năm, Ngô Tất Tố đã dịch bài thơ này rất hay.

Đầu tiên. Hai câu thơ đầu miêu tả cảnh thôn quê vùng Thiên Trường trong ánh chiều tà. Bốn chữ “ruộng này qua làng khác” và “buôn bán” được liên kết thành từng cặp, tạo nên sự cân đối hài hòa về ngôn ngữ, gợi lên cảnh làng quê nối tiếp nhau xa gần, đông đúc, trù phú. Trong bóng chiều buông xuống, cái xóm “trước làng sau xóm” phủ một làn khói nhẹ, càng trở nên thơ mộng và rộng lớn. Khói sương sớm. Làn khói lam chiều buông nhẹ bay trên những mái nhà tranh sau lũy tre làng. Chỉ với ba nét chấm phá rất chọn lọc, tả ít nhưng gợi nhiều về thơ cổ, nhà thơ đã tạo nên một không gian nghệ thuật về cảnh đồng quê vào một buổi chiều dạt dào sương mù bao phủ và một buổi hoàng hôn thật tĩnh lặng, yên bình, tĩnh lặng, thơ mộng. Bản vẽ của thanh ánh sáng. Cảnh vật bao la, êm đềm. Cảnh bên ngoài và trạng thái của tâm cùng tồn tại. Như thể nhà thơ thả hồn vào cảnh vật, lặng lẽ quan sát cảnh làng quê xa gần mà không thấy chán. Phép so sánh “đạm bạc” (yếu ớt như khói) là một hình ảnh thơ. Tất cả linh hồn của một đất nước gợi cảm:

‘Xóm tiền làng là của riêng,

Bán bít tất, bán yểu điệu thục nữ ‘

(Trước làng, sau làng như khói lồng,

Bóng chiều muộn dường như?)

2. Hai câu cuối là phong cảnh quê thật mộc mạc, bình dị, thân thuộc và hữu tình. Trên những con đường quê, những đàn bò rừng nối đuôi nhau về làng. Có tiếng sáo của người chăn cừu, tiếng hót líu lo, âm thanh hồn nhiên và yên bình của làng quê ta xưa. Có đôi, có cặp cò trắng bay, nối đuôi nhau đáp xuống ruộng. Nhà thơ không nói đến màu xanh và hương lúa mà người đọc vẫn cảm nhận được. Ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ đầy âm hưởng và màu sắc, thanh tao và tràn đầy năng lượng

Xem thêm: Xin giới thiệu nội dung và phát biểu cảm nghĩ của em về lời dạy của Bác Hồ đối với thiếu nhi Việt Nam: “Nông thôn Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không… một phần lớn là nhờ cháu học”

còn sống. Phong cách đánh dấu và chuyển sang miêu tả sự tĩnh lặng của tác giả được thể hiện một cách ấn tượng trong bức tranh quê này:

“Đám đông kẻ thù của kẻ thù đầu hàng,

Đường trắng song song Phi Hà Điện ‘

(Người chăn trâu thổi sáo trở về, đàn cò trắng ném xuống đồng từng đôi).

Hồn quê, hồn quê đồng điệu, dạt dào. Thiên Trường lúc bấy giờ, đường sá xe ngựa, có nhiều cung điện của vua chúa, các dinh thự của nhà Trần, nhưng Trần Nhân Tông thì không kể đến gác tía, bệ ngọc, từ gian. ngai vàng lộng lẫy, nhưng chỉ nói rằng: với trang trí tự nhiên, với trang trí đồng quê. Điều đó cho thấy tâm hồn nhà thơ giàu tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước. Sự giản dị, chất phác và hồn nhiên chính là bản chất và hồn thơ của vị vua – nhà thơ anh hùng này. Cảm giác này càng rõ hơn khi chúng ta đọc bài thơ Hành cung Thiên Trường (Ngự chơi trên hành cung Thiên Trường):

‘Cảnh rõ ràng, vật thể cũng yên tĩnh,

Mười lục địa là một lục địa.

Hàng trăm tiếng chim hót, tiếng nhạc hót,

Ngàn quýt, đầy tớ quân tử.

Vầng trăng hồn nhiên soi bóng người thơ ngây,

Nước có thu, trời có thu.

Bốn bể nước trong veo và sự im lặng của bụi,

Tấm bằng cũ so với tấm bằng đã mất này ‘

(Bản dịch của ‘Hoàng Việt thi tuyển’)

Cảnh buổi chiều được đề cập trong bài “Hành cung Thiên Trường” là cảnh buổi chiều thu, ai cũng biết. Trong bài “Thiên Trường Vân Vọng” là chiều xuân hay chiều thu? Rất khó xác định. Tôi chỉ cảm thấy đó là một buổi chiều êm đềm ‘, ngôi làng chìm trong sương và sương mù. Không gian nghệ thuật và không khí nghệ thuật đồng thời cho ta thấy sự khẳng định: Trần Nhân Tông viết ‘Thiên trường vạn tuế’ vào năm 1288, khi quân Nguyên – Mông đánh tan quân ta, nước Đại Việt thái bình, vui vẻ.

Bài hát ‘Thiên Trường Vân Vọng’ của bộ tứ là một hình ảnh đậm nét, thiếu sáng, đẹp đẽ và sôi động của vùng nông thôn. Một cây bút nghệ thuật cổ điển tài ba. Một tâm hồn cao thượng, yêu đời. Tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương đất nước được thể hiện qua một số hình ảnh đậm đà, ấm áp qua những thiết kế tinh tế, gợi hình, gợi cảm và giàu sức gợi. Thật kỳ diệu, bài thơ đã đi qua một chặng đường hơn bảy trăm năm, đọc nó, ta vẫn thấy bồi hồi vô cùng. Tôi vẫn cảm thấy những cánh cò trắng được nhắc đến trong bài thơ vẫn bay trong chiều quê và vẫn xao xuyến trong tâm hồn tôi. Đúng là thơ!

Nguồn: Vietvanhoctro.com

Xem thêm: Phân tích câu ca dao Làng ta phong cảnh hữu tình