Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

Hướng dẫn

Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

Truyện Kiều là một trong những tác phẩm bất hủ đi vào lòng người như một tác phẩm văn học đan xen giữa giá trị hiện thực và nhân đạo. Trong bài thơ này, đại thi hào dân tộc Nguyễn Du đã phác họa nên một hình ảnh hữu tình, nên thơ với nàng Kiều “tài sắc vẹn toàn”, các nhân vật được miêu tả bằng những con người hiện thực rất sống động nhưng cũng đầy uất hận. Than thở cho một hệ thống xã hội bất công, nơi mà con người bị đàn áp đến tận cùng, nhưng vẫn có những tia sáng nhỏ bé tỏa sáng trong đêm tối mù sương. Trong đoạn trích “Ngung Bích phong lưu”, nhà văn Nguyễn Du đã miêu tả thành công nỗi nhớ nhung người yêu và gia đình, nhưng cũng ngậm ngùi cho thân phận bạc bẽo của chính mình và điềm báo tai họa cho kẻ phiêu bạt miền tây trước đây. Cảm xúc bâng khuâng, băn khoăn, trăn trở của Kiều đã tạo nên nét riêng cho đoạn trích này.

“Kiều ở lầu Ngưng Bích” là đoạn thứ hai của phần “Sang trọng và gia thế”. Trong đoạn trích, tâm trạng của Thúy Kiều dường như lẫn lộn: buồn – cô đơn, nhớ người yêu, nhớ gia đình và lo lắng cho số phận của mình.

Tác giả nhập vào nhân vật để đồng cảm, hoang mang, lo sợ với Thúy Kiều. Thật đáng tiếc cho nhân vật nhưng đồng thời cũng thể hiện sự khen ngợi chân thành, nó như một lời khen ngợi, một tiếng nói yêu thương mà tác giả dành cho nhân vật. Trong tiếng khóc nức nở của Thuý Kiều còn có cả tiếng khóc đau thương, xót xa. Với thể thơ lục bát và dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Du đã tạo nên một tác phẩm tinh xảo, điêu luyện. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa chất học giả và văn học dân gian trong cùng một tác phẩm.

Sáu câu thơ đầu tiên hiện lên, khắc họa hình ảnh thiên nhiên trước mặt chốn lầu Ngưng Bích và tâm trạng êm đềm của Thúy Kiều. Lầu Ngưng Bích có thực sự là ngục tù cho thời niên thiếu của Thúy Kiều? Hình ảnh phong cảnh không chỉ mở ra theo chiều rộng mà còn cả chiều cao và chiều sâu. Vẻ đẹp hùng vĩ của núi non trùng điệp, thác nước ầm ầm tạo nên sức mạnh của mẹ thiên nhiên. Chỉ một nét vẽ xa xăm đã gợi ra một không gian hay thế giới nội tâm của Thúy Kiều.

Xem thêm: Viết đoạn văn nêu cảm nhận của anh / chị về vẻ đẹp của nhân vật Thúy Kiều trong những câu thơ sau: “Kiều trong sáng càng ngọt ngào,… Hoa ghen kém xanh” (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

“Những cồn cát vàng và những bụi hồng bụi ở đó”

Bốn bề gợi không gian ngàn hoa, không gian thăm thẳm, gợi màu sắc của thiên nhiên hoang sơ, cảnh vật nơi đây càng làm cho Thúy Kiều thêm buồn, cảm giác cô đơn càng thêm sâu. Sự “bẽ bàng”, tủi hổ, tủi hổ của một con người khi phải đặt chân đến đất xanh.

Câu thơ thứ 4 chứa chan tình cảm, sự đồng cảm giữa con người với con người. Thiên nhiên lúc này cũng đồng cảm với tâm trạng của Thúy Kiều và muốn sẻ chia cùng nàng. Sự đồng cảm của nhà thơ đối với nhân vật càng lớn thì tình cảm của nhà thơ trong từng câu văn sẽ càng dạt dào.

Trong tâm trạng xao xuyến của Thúy Kiều có nỗi nhớ Kim Trọng. Nàng nhớ đến Kim Trọng đầu tiên không phải nàng không yêu gia đình mà ở nàng đang có sự đấu tranh gay gắt giữa chữ tình và chữ hiếu. Cô thà hy sinh tình yêu để ưu tiên báo hiếu – bán thân chuộc cha. Như vậy đối với mẹ nàng đã làm tròn chữ hiếu, nhưng đối với người nàng yêu – Kim Trọng, nàng đã phá bỏ lời thề độc thân, nàng cảm thấy thật tội lỗi, nàng cảm thấy “tủi hổ” vì đã mất đi chữ “trinh”. khi bị bắt bởi âm mưu của Mã Giám Sinh.

“Tướng người dưới trăng…”

Trong tâm trí nàng hiện lên cảnh mình và Kim Trọng thề non hẹn biển, nàng càng băn khoăn, càng nhớ, tình yêu của Thúy Kiều đối với Kim Trọng càng nồng nàn:

Xem thêm: Phân tích nhân vật Phương Định trong “Những ngôi sao xa xôi”

“Tình yêu trong sương của …”

Khi nhận ra tình yêu của Kim Trọng dành cho mình, niềm khao khát ấy càng bùng cháy, như hàng ngàn mũi kim đâm vào ngực khiến nàng “nghẹt thở”. Tác giả đã vượt qua mọi quan niệm, định kiến ​​của xã hội để có thể trân trọng vẻ đẹp của Thúy Kiều – thể hiện cái nhìn nhân văn về nhân vật của mình.

Trong những câu thơ thể hiện nỗi nhớ gia đình, tác giả nhấn mạnh từ “đau thương” – mối quan hệ huyết thống từ đó bị chia cắt do phong tục tập quán và những bất công xã hội mà gia đình Thúy Kiều hay nạn nhân là nàng đã phải từ biệt gia đình thân yêu và đã để kiên nhẫn như cô ấy bây giờ. Trong các câu thơ, tác giả sử dụng điển cố và điển cố: “Quạt Nóng, Máy ấp lạnh, Sâm lai, Góc khuất” – để Thúy Kiều thể hiện tình cảm của mình đối với cha mẹ, tấm lòng hiếu thảo của một người con không thể phụng dưỡng cha mẹ khi về già. Chịu đựng đến cùng cực.

Nàng nhớ người yêu, nhớ gia đình trước, rồi cuối cùng nàng khóc cho số phận bất hạnh của mình, tưởng rằng khi gặp Kim Trọng, cuộc đời nàng bước sang một trang mới, biến cố ập đến với gia đình nàng. trên những con đường tăm tối không nhìn thấy ngày mai.

Tác giả sử dụng hình ảnh bốn bình hoa: bốn khung trời khác nhau nhưng nhìn đâu cũng thấy đau, nhìn đâu cũng thấy bế tắc, tuyệt vọng. Câu hỏi tu từ nghe như tiếng than thở của nhân vật.

Đôi mắt buồn của Thúy Kiều không biết bấu víu vào đâu, nàng nhìn về phía cửa bể, nàng muốn nhìn con thuyền xa xa để mong được giải thoát. Nhưng hình ảnh này chỉ thấp thoáng, nhìn từ xa càng làm tăng thêm khoảng cách giữa Thúy Kiều với tất cả những gì chôn giấu. Những tia hy vọng vụt tắt, cô lại thấy mình bế tắc, đau khổ.

Xem thêm: Hai bên thỏa thuận việc thuê nhà.

Đôi mắt Thúy Kiều tìm thấy hình ảnh ”những cánh hoa nổi, lên và xuống ” khiến cô ấy thậm chí còn là một điềm báo lớn hơn về tương lai không chắc chắn của anh ấy.

Cánh hoa yếu ớt này có phải là tâm trạng buồn hay là cuộc đời của Thúy Kiều, bị vùi dập không tìm được bến bờ cho mình. Cô ấy bị bắt”đám mây chân cỏ “. Cỏ nội chỉ gợi lên tâm trạng buồn của Thúy Kiều, u uất, đau đáu chỉ muốn bao trùm lên mọi thứ xung quanh.

chân mây xanh đất xanh

Hình ảnh chân mây chỉ nhuốm một màu xanh biếc phải chăng là điềm báo về một tương lai bất định được báo trước cho cuộc đời mình?

Tiếng thác đổ ầm ầm, tiếng gió thổi – tất cả những điều này nghe như cuồng nộ của thiên nhiên. Kết hợp giữa tả cảnh và tả tình. Phải chăng tiếng thác chảy là sự hoảng hốt, lo lắng của Thúy Kiều khi thấy trước bàn tay chàng sắp gục xuống trên mình.

Hình ảnh tứ bình được hiện lên theo cấp độ tăng dần cho thấy tâm trạng vô cùng phức tạp, hỗn độn trong lòng Thúy Kiều. Tác giả sử dụng điệp từ “buồn trông” khiến mỗi câu thơ càng thêm xót xa, thổn thức như chính nỗi lòng của nhân vật. Luôn biết rằng có những tai họa và nguy hiểm ở phía trước, nhưng không có cách nào để thoát khỏi.

Tác giả tập trung vào diễn biến tâm lý của nhân vật. Vừa bước vào đời, anh đã bị cuộc đời đánh cho bầm dập, bầm dập không cách nào thoát khỏi. Tác giả gửi gắm vào nhân vật bao nhiêu là sự sâu sắc, đồng cảm, yêu thương. Nó không chỉ đối với số phận của phụ nữ, mà còn là số phận của đàn ông. Đó là một đoạn trích tiêu biểu về nghệ thuật miêu tả, nghệ thuật miêu tả và phân tích diễn biến nội tâm của nhân vật.

Nguồn: Bài viết hay

Nguồn: Bailamvan.edu.vn