Phân tích đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”

Phân tích đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”

Hướng dẫn

Phân tích đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”

Phân công

Nhắc đến Nguyễn Du, một đại thi hào văn học của nước ta, ai cũng biết đến tác phẩm Truyện Kiều xuất sắc của ông. Truyện Kiều là hình ảnh hiện thực về một xã hội bất công, là tiếng nói thương cảm trước số phận bi thảm của con người. “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một trong những đoạn trích đặc sắc, “một hình tượng giàu cảm xúc” của Nguyễn Du đã khắc họa khéo léo tâm trạng của Thúy Kiều. Đó là nỗi nhớ của người yêu, người cha mẹ trong nỗi buồn, sự cô đơn và tuyệt vọng.

Sau khi biết mình bị lừa trong nhà kính, Kiều uất hận định tự tử, nàng giả vờ hứa sẽ đợi chàng đến lấy và cưới chàng ở một nơi đàng hoàng. Bà ta quản thúc Kiều ở lầu Ngưng Bích để chờ thực hiện một âm mưu mới. Mở đầu đoạn trích, tác giả vẽ cảnh buồn trước lầu Ngưng Bích:

“Trước lầu Ngưng Bích, khóa xuân

Tuổi trẻ trông trăng gần xa.

Bốn bề xa tít tắp.

Đồi cát vàng, bụi hồng ở đó. “

Chỉ với hai từ “lớp xuân”, người đọc có thể hiểu Kiều đang bị quản thúc. Đây là nơi khóa chặt tuổi thanh xuân hạnh phúc của Kiều, khép lại cánh cửa niềm vui và ước mơ của người con gái. Một mình nàng Kiều giữa không gian mênh mông hoang vắng, choáng ngợp bởi không gian “bốn bề”. Dường như lầu Ngưng Bích đang vùng vẫy, chơi vơi giữa mênh mông trời nước “xa vắng”, “trăng gần”. Đó là một hình ảnh hoang vắng, không có bóng người, không có một chút thân tình, không có người đồng hành để an ủi cô vào lúc này.

Xem thêm: Đề 15: Phân tích nhân vật ông Hai ở Làng Mới – Văn mẫu chọn lọc lớp 9

Một mình Kiều vẫn lẻ loi với những đau khổ, tủi nhục vừa phải trải qua:

“Xấu hổ vào sáng sớm và đêm khuya.

Một nửa yêu thương, một nửa giai đoạn, như chia sẻ trái tim của bạn “

Hình ảnh “mây sớm khuya” ám chỉ một vòng thời gian khép kín lặp đi lặp lại ngày đêm. Nhưng vẫn chỉ có nàng Kiều “bẽ bàng”, lẻ loi giữa cảnh mênh mông hoang vắng tứ phía chỉ có cồn “cát vàng” và dặm “bụi hồng”. Một không gian quá rộng lớn và vô hạn, nhưng chỉ có một sự sống dường như chết theo từng hơi thở. Không gian càng lớn, con người càng trở nên nhỏ bé và đơn độc. Dường như trái tim Kiều cũng nhuốm nỗi buồn trên sân khấu bởi “một nửa yêu thương, một nửa chặng đường, như chung một tấm lòng”. Nỗi đau buồn, tủi hờn của Kiều khiến nàng nhớ đến người yêu và cha mẹ.

Kiều nhớ đến Kim Trọng, mối tình đầu lãng mạn nhưng gặp nhiều trắc trở:

“Nghĩ đến người dưới trăng cùng chén đồng

Tức sương sớm đợi ngày mai.

Bên góc bể bơi vắng vẻ,

Giặt sợi không bao giờ phai màu “

Thúy Kiều tưởng tượng đến Kim Trọng với lời thề thủy chung son sắt, ngày đêm vẫn mong ngóng Kiều. Trong các nghi thức phong kiến ​​xa xưa, nơi cha mẹ bắt con cái phải ngồi xuống. Nhưng Kiều và Trọng đã dám vượt ra ngoài nghi lễ này, nghe trái tim mách bảo nên duyên vợ chồng. Hai người đã thề non hẹn biển, uống cạn chén rượu thề nên duyên vợ chồng, nhờ có ánh trăng mà họ mới dám minh chứng cho tình yêu đẹp đẽ này. Nhưng giờ đây khoảng cách “ngang trái” đã khiến cả hai bất lực, khoảng cách khiến cô buồn và đau. Đau xót vì trái tim non nớt này của Kiều đã bị xâm hại, vấy bẩn không bao giờ có thể “gột rửa” được. Các động từ “rửa, giặt, canh, đợi” đã cho thấy nỗi nhớ nhung khôn nguôi của Kiều đối với người mình yêu. Cô than thở về tình yêu đang dần rạn nứt của mình, khao khát mãnh liệt về một tình yêu cháy bỏng nhưng cô không biết nó sẽ đi về đâu.

Xem thêm: Văn bản hành chính – Ngữ văn 9

Nơi chân trời lẻ loi, Kiều không chỉ nhớ Kim Trọng mà còn nhớ đến mẹ cha nơi quê nhà:

“Xấu người ngày mai tựa cửa

Quạt sưởi ấm lạnh ai bây giờ?

Sân nhà Lai bao ngày mưa nắng.

Đôi khi gốc rễ của cái chết vừa được ôm lấy.

Tưởng tượng đến hình ảnh “khung cửa” của mẹ và cha ngày ngày quằn quại trong sự mong chờ, lại nhớ đến “nguyên lai” của San Lai, mọi thứ đã thay đổi. Đó là dấu hiệu cho thấy thời gian trôi thật chậm, cũng là lúc cha mẹ già đi và yếu dần đi. Nghĩ đến điều này, Kiều không ngừng day dứt. Đó là nỗi đau của đứa con đầu lòng, không được phụng dưỡng cha mẹ khi tuổi cao sức yếu, không giữ được đạo hiếu làm con. Kiều không biết lúc này ở quê, ai sẽ là người “quạt lạnh” cho bố mẹ. Đến đây, người đọc cảm thấy thương cảm và trân trọng Thúy Kiều hơn. Vì dù hy sinh thân mình để cứu gia đình, cha mẹ nhưng cô vẫn đau đáu nhớ về cha mẹ. Cô ấy quả là một người con gái có tấm lòng hiếu thảo, tốt đẹp đáng được trân trọng.

Tình cảm của Kiều càng thêm xót xa, đáng thương, như hóa thành từng lớp sóng từ trong lòng trào dâng, ào ạt ập đến:

‘Buồn nhìn cánh cửa tan nát chiều nay

Một con thuyền ra khơi xa.

Buồn trông nước mới xa.

Hoa có nguồn gốc ở đâu.

Buồn khi nhìn cỏ lau dầu

Xem thêm: Phân tích bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải – Ngữ văn 9

Chân mây xanh màu xanh lá cây trái đất,

Buồn thấy gió thổi ghềnh

Âm thanh tuyệt vời của sóng xung quanh ghế.

Dường như nỗi buồn của Kiều đã lên đến đỉnh điểm. Nó không chỉ là nỗi buồn nữa, mà nó lan tỏa khắp mọi khung cảnh. Đúng là “kẻ buồn có bao giờ vui”. Hình ảnh “con thuyền” với “cánh buồm” và “hoa nổi” thể hiện nỗi niềm khắc khoải của Kiều trong chuyến phiêu du đầy sương mù. Cô thương cảm cho số phận bé bỏng của mình như một “đóa hoa bỉ ngạn” trôi dạt giữa dòng đời vô định. Hình ảnh “ngọn cỏ lau dầu” báo hiệu một tương lai bất định đang héo tàn. Mở rộng đến tận chân mây, mặt đất là “một màu xanh xanh”, màu xanh của nỗi buồn, màu xanh của xăng của bất hạnh, khô héo và tuyệt vọng. “Tiếng gió” và “tiếng sóng” là cảnh thiên nhiên bao la, dữ dội. Mọi thứ dường như vây lấy cô gái chìm trong đau buồn, trung úy, sợ hãi. Với việc sử dụng các điệp từ “nhiều mar”, “xanh xanh”, “dầu dầu”, “gầm”, thành ngữ “buồn trông” như những tiếng thở dài não nề và những câu hỏi tu từ đã tạo nên một giai điệu mênh mang, buồn đến rợn người. Tác giả đã vẽ nên một bức tranh buồn và thê lương.

Với lối thơ tả cảnh ngụ tình trong thơ Nguyễn Du, đoạn văn đã diễn tả thành công nội tâm của Thúy Kiều. Đoạn trích thể hiện sự cô đơn, buồn tủi và nỗi đau xé lòng của Thúy Kiều. Tuy nhiên, người con gái xinh đẹp này vẫn luôn giữ trọn tình yêu thủy chung với Kim Trọng và tấm lòng hiếu thảo của mình đối với cha mẹ. Đoạn trích chính là hình tượng xúc cảm tiêu biểu của đại thi hào Nguyễn Du.

Nguồn: Bailamvan.edu.vn