Phân tích nhân vật Tràng trong Truyện nhặt vợ của Kim Lân

Đề: Phân tích nhân vật Tràng trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân

Tác phẩm “Nhặt được vợ” xoay quanh câu chuyện của ba người trong một gia đình dân cư. Điều kỳ lạ là một người làm nên tên truyện lại không có tên, không tuổi. Cô ấy là vợ của Trang. Người phụ nữ này chỉ là một trong hàng nghìn, hàng vạn phụ nữ cùng một lúc. Vì vậy, con người này rất hay bị lãng quên, ít người để ý đến, nhưng đối với người viết thì đó là một số phận không thể bỏ qua, một số phận gây bao đau thương, lo lắng. Liệu sức hấp dẫn của nhân vật nữ này đến từ một kẻ trong bóng tối, hư không trở thành vợ ngọt ngào với bà cụ Tứ?

a12 - Phân tích nhân vật Tràng trong truyện Lượm nhặt vợ của Kim Lân

1. nội dung, hình thức

Vợ Tràng là một người phụ nữ không rõ lai lịch, không gia đình, không nhà cửa. Cô ấy thậm chí không có tên và đôi khi được gọi là thị, dì, và đôi khi là vợ. Chỉ có bà cụ Tứ coi vợ Tràng như con dâu, con dâu, con nhà tôi gọi là Tràng. Trước khi về nhà bà cụ Tứ, bà và các con gái ngồi trước cửa gác Liên chờ nhặt hạt rơi, hạt rơi vãi, hoặc có việc cần gọi thì ông làm. Trong nạn đói lúc bấy giờ, thân phận con người rất rẻ mạt. Chẳng phải Tràng vợ không tuổi, không tuổi, có biết bao nhiêu chị em như vậy.

Vợ Tràng hiện lên với chân dung bi thảm. Lần đầu tiên nhìn thấy Trang, cô chỉ gầy và xanh xao (ngồi ngoài cửa chuồng), nhưng lần thứ hai anh không nhận ra cô. Vì đói mà chỉ một hôm quần áo rách toạc như tổ đỉa, da gầy hẳn đi, trên khuôn mặt xám như cày chỉ còn nhìn thấy hai con mắt. Thảo nào anh Trang không nhận ra đó là sự thật.

2. Tính cách

– Lần đầu gặp Trang:

+ Thị là người quyết liệt, dám làm đến mức táo tợn. Nghe người đánh xe hát một câu cho đỡ mệt (Muốn ăn cơm trắng mấy tiếng / Đến đây đẩy xe cùng anh), cô bám vào và đứng dậy, điệu bạn chạy để đẩy xe về phía Trang. . Gặp nhau lần thứ hai, khi Trang vừa thanh toán tiền hàng xong thì thị lầm bầm chạy ào ào. Thị đứng trước mặt nói một cách ủ rũ: Diao! Một người đàn ông như vậy! Khi thấy anh Tráng có vẻ dễ bắt, chị Thi tiếp tục giở trò đồi bại. Thấy cô có gì đó muốn ăn, đôi mắt trũng sâu của cô lập tức sáng lên, cô ngồi dậy ăn thật ngon. Thị trùm đầu ăn một bốn bát bánh không nói tiếng nào. Ăn xong cô đưa đũa lên miệng thở.

+ Đây có phải là tính cách cố hữu của người phụ nữ này không? Không, ngay từ đầu cho đến khi theo Trang về nhà, người phụ nữ này đã hành động hoàn toàn theo bản năng của mình. Thị làm mọi cách để được… ăn!

– Khi nhận về làm vợ Tràng:

Trên đường về nhà Tràng, thị hoàn toàn thay đổi. Trong khi Trang có vẻ mặt vui vẻ khác thường, thường xuyên mỉm cười một mình và mắt sáng ngời, cô đi theo sau anh ta khoảng ba mươi thước, mang theo một cái giỏ nhỏ, chiếc mũ nghiêng sang một bên che đi nửa khuôn mặt. Thị có vẻ ngại ngùng, rụt rè. Rõ ràng là so với người phụ nữ vừa rồi buổi trưa, cô ấy bây giờ đã là một con người khác. Buổi trưa vừa đi chợ vừa mê ăn, giờ lại đi gặp chồng (ai mà chả ngại!). Hơn nữa, cô bắt đầu nhận ra thân phận làm vợ của mình. Hóa ra cô không có quyền gì, kể cả quyền được lựa chọn, và cuối cùng phải chấp nhận số phận của mình.

Tuy nhiên, dù cố ăn xôi nhưng cô vẫn là người sống có ý thức về giá trị của bản thân. Trên đường về nhà chồng, khi ông Tràng tỏ ra thích thú trước cảnh lũ trẻ trêu ghẹo mình, bà tỏ ra rất bực bội, mày nhíu chặt và đưa tay lên giật phăng vạt áo của ông. Trẻ con nghịch ngợm có thể bị chọc ghẹo, ngay cả người lớn ở đây cũng tò mò, cô bé càng xấu hổ, chân nọ chân kia. Anh Trang trở nên vô tư, chỉ cần lấy vợ là vui. Thị càu nhàu vào miệng rồi lảng vảng đi đâu mất tiêu. Thị mong sớm đến với “chồng con” để tránh những ánh mắt soi mói của mọi người.

Xem thêm: Cảm nhận 12 câu đầu bài thơ hay nhất của Nguyễn Du

Ở Trang, thành phố còn khác lạ hơn. Người phụ nữ có sự tò mò của một cô dâu mới. Cô đảo mắt nhìn xung quanh. Quả thực rất nghèo. Thị nén tiếng thở dài. Anh Tràng muốn vợ được tự do, giục chị ngồi xuống nhưng chị chỉ dám ngồi ở mép giường. Khi bà cụ Tứ về, con ngốc bà chủ động ra chào cùng bạn. Trước mặt mẹ chồng, cô lại càng ngại ngùng, vẫn đứng ở chỗ cũ, khẽ nhúc nhích. Chính thái độ và hoàn cảnh ấy của bà đã khiến bà cụ Tứ, trái với sự dò xét thông thường của bà mẹ chồng đối với con dâu, nhìn bà mà thương hại. Cô nhanh chóng nhận mình là cô dâu dù chỉ vài phút trước đó hai người hoàn toàn xa lạ.

Sáng hôm sau, cô ấy đã trở thành một người vợ tốt. Với bà cụ Tứ, bà dậy sớm, lo lau nhà, quét sân. Một người vô tâm như anh Tràng vẫn nhận thấy ở thành phố có một sự đổi khác lạ lùng: Gương mặt Tràng hôm nay khác lắm, rõ là người phụ nữ đoan trang, hiền hậu chứ không còn vẻ nhăn nhó như mấy lần ngoại tỉnh nữa. Không chỉ vậy, cô còn chứng tỏ là một người rất biết trau dồi và kinh doanh. Khi hỏi bà cụ Tứ về chiếc trống to ngoài tòa thị chính và biết đó là trống thuế, bà khẽ thở dài. Chính bà là người đầu tiên kể cho cả nhà nghe chuyện Thái Nguyên, Bắc Giang, người ta không còn đóng thuế nữa mà đi phá kho thóc của Nhật chia cho dân đói. Câu chuyện này khiến Trang rất tiếc nuối và ân hận khi nhớ rằng mình có cơ hội để làm nhưng không làm được. Biết đâu, để chăm lo cho cuộc sống gia đình, người phụ nữ này có khi còn đanh đá hơn cả chị Trang của mình! Bữa cơm tồi tàn sáng hôm ấy, Thị cùng với bà Tú và ông Tràng cảm thấy một nỗi ân hận len lỏi trong tâm trí khi phải cố nuốt cái nghẹn đắng vào cổ họng. Tuy nhiên, Thị cũng như Trang và mẹ đều cố tránh nhìn mặt nhau, không muốn làm người khác buồn. Phải tinh tế lắm, phải tế nhị thế nào mới có được thái độ nhân văn như vậy!

Hóa ra cái sự ương ngạnh trước đây của người đàn bà mà Tràng lấy chồng chỉ là do đói khát. Khi còn sống trong tình yêu, mái ấm gia đình, người phụ nữ này đã sống đúng với bản chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam.

3.Fate

Người phụ nữ Tràng tiêu biểu cho số phận của người phụ nữ trong nạn đói năm 1945: nghèo đói, mất giá.

– Khi người phụ nữ này có cơ hội được sống trong tình người, trong mái ấm gia đình, dù cuộc sống vẫn còn bị đói khát đe doạ nhưng những phẩm chất tốt đẹp đã sống lại.

4. Nghệ thuật xây dựng nhân vật

– Kim Lân đã khắc họa một người phụ nữ rất tài tình. Nhà văn không thèm miêu tả tâm lý nhân vật để cho nó kỳ dị, phù hợp với hoàn cảnh của Thị, một người vợ đảm đang (khác với nhân vật Tràng được miêu tả tâm lý rất chi tiết).

– Tác giả tập trung miêu tả hành động, cử chỉ, nét mặt của nhân vật để người đọc hiểu được tâm trạng của người phụ nữ. Chẳng hạn, chi tiết đội nón lá che mặt thể hiện sự xấu hổ vì biết mình là phụ nữ không theo nhà chồng; ou Thị nén tiếng thở dài khi liếc sang nhà Tràng; Hay chi tiết cô cầm bát cháo cám, nhìn nó, đôi mắt thâm quầng rồi bình thản và trong miệng, đó là thái độ chấp nhận số phận khi nó kết thúc … Muôn vàn chi tiết nhỏ vô thưởng vô phạt như thế nhưng nói khá rõ ràng về suy nghĩ và cảm xúc của một người.

5. Kết thúc

– Xây dựng nhân vật vợ Tràng, nhà văn gián tiếp tố cáo một xã hội xô đẩy con người đến sự hèn hạ, tha hóa nhân phẩm chỉ vì cái đói. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh éo le của mình, con người vẫn luôn vươn mình hướng tới cuộc sống, hướng tới tương lai, và trong một hoàn cảnh nhân văn hơn, phẩm giá con người đã được nâng tầm.

– Ba nhân vật chính của Nhặt Vợ được nhà văn xây dựng theo những cách khác nhau. Sự khác biệt này đã góp phần tạo nên giá trị đọc độc đáo của tác phẩm. Ba nhân vật trở thành ba phân đoạn cuộc đời của một xã hội đen tối, đói khổ và từ đó ánh lên ánh sáng của một chủ nghĩa nhân đạo cao cả.

Nguồn Edufly

Xem thêm: Nghệ thuật sống luôn thay đổi để thích ứng với môi trường