Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn Làng

Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn Làng

Tổng hợp top những bài văn phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn Làng hay nhất của các bạn học sinh giỏi. Mời các bạn đọc và tham khảo để dựa vào đây viết cho mình một bài văn phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn Làng của tác giả – Kim Lân thật hay và đạt được điểm cao nhé!

Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn Làng – Bài làm 1

Kim Lân là nhà văn hiện đại Việt Nam. Ông có một vốn sống vô cùng sâu sắc về nông thôn Việt Nam. Những thú chơi dân dã mang cốt cách “phong lưu đồng ruộng” như thả diều, chọi gà, nuôi chó, thả chim bồ câu, chơi núi non bộ, gánh hát chèo, trẩy hội mùa xuân,v.v… được ông viết rất hay và cho ta nhiều thú vị. Ông là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc mang hương đồng gió nội qua hai tác phẩm: Con chó xấu xí và Nên vợ nên chồng.

phat bieu cam nghi ve truyen ngan lang - Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn Làng

Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn Làng

Viết về đề tài nông dân và kháng chiến, truyện Làng của Kim Lân thành công hơn cả. Nhân vật chính của truyện là ông Hai đã để lại trong lòng chúng ta nhiều ấn tượng sâu sắc, đẹp đẽ.

Ông Hai là một lão nông cần cù, chất phác, giàu lòng yêu quê hương đất nước. Ông gắn bó vói cách mạng, quyết tâm đi theo kháng chiến, trung thành tuyệt đối vào sự lãnh đạo sáng suốt của cụ Hồ Chí Minh.

Cũng như hàng triệu người nông dân khác, ông Hai là một con người cần cù chất phác rất đáng yêu. Ông hay làm “ở quê ông làm suốt ngày, không mấy lúc chịu ngơi chân ngơi tay”. Đi cày, đi cuốc, gánh phân, tát nước, đan rổ, đan rá,… ông đều làm khéo, làm giỏi.

Ông Hai đã sống qua hai chế độ, trước kia ông mù chữ, sau nhờ cách mạng mà ông được học “Bình dân học vụ”, biết đánh vần. Kim Lân đã kể rất hay về tình yêu làng của ông Hai. “Làng ta phong cảnh hữu tình”… không yêu làng sao được. Cái làng Chợ Dầu vốn là nơi chôn nhau cắt rốn của ông, ” nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh ” “đường trong làng toàn lát đá xanh, trời mưa trời gió tha hồ đi khắp đầu làng cuối xóm, bùn không dính đến gót chân “…Trước kia, ông Hai rất lấy làm tự hào về cái sinh phần quan tổng đốc làng ông. Đi đâu ông cũng khoe, gặp ai ông cũng khoe “cái dinh cơ cụ thượng làng tôi có lắm lắm là của. Vườn hoa cây cảnh nom như động ấy.”.. Ông yêu làng Chợ Dầu với tất cả sự hồn nhiên, ngây thơ của người ít học. Ông đã mang thương tật trên mình khi bị bắt làm phu xây cái làng ấy! Đáng lẽ ông không nên khoe, không nên “hả hê cả lòng”.  Nỗi đau, nỗi nhục của một đời người nói làm gì nữa cho thêm phần nhục nhã? Nhắc lại chuyện xưa, cũ ấy của ông Hai, Kim Lân đã viết với một giọng văn châm biếm nhẹ nhàng. Từ ngày cách mạng thành công, ông Hai vẫn yêu làng, yêu với tất cả tình cảm trong sáng, chân thành. Ông đã có nhiều thay đổi về măt nhận thức. Ông không bao giờ còn “đả động” đến “cái sinh phần” ấy nữa, ông biết “thù nó” đến tận tim gan. Ông yêu cái làng Chợ Dầu kháng chiến với tất cả niềm kiêu hãnh cao cả! Cái làng Chợ Dầu của ông “có cái phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy”. Ông khoe làng mình “những ngày khởi nghĩa rầm rập”, các cụ phụ lão râu tóc bạc phơ vác gậy đi tập quân sự, “nhất là những hố, những ụ, những giao thông hào của làng ông thì lắm công trình không để đâu hết”. Có thể nói, từ ngày đi tản cư, phải xa làng thân yêu, bao nỗi buồn vui của quá khứ và hiện tại chứa chất trong lòng ông bao tâm sự. Dưới ngòi bút của Kim Lân, ông Hai, một người nông dân yêu làng, yêu nước, hiền lành, chất phác… hiện lên một cách chân thực, ta thấy gần gũi, bình dị và đáng yêu lắm. Tình yêu làng, tình yêu quê hương là một trong những tình cảm sâu sắc nhất của người dân cày Việt Nam.

Quyết tâm kháng chiến, tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Hồ Chủ tịch cũng là một nét rất đẹp trong tư tưởng, tình cảm của ông Hai. Kháng chiến thì khắp nơi “Ruộng rẫy  là chiến trường. Cuốc cày là vũ khí. Nhà nông là chiến sĩ!”. Vợ con đi tản cư, nhưng ông Hai vẫn ở lại cùng với đội du kích “đi đào đường đắp ụ”để bảo vệ cái làng Chợ Dầu thân yêu. Khi hoàn cảnh gia đình neo bấn, vợ con thúc bách, cực chẳng đã phải xa quê hương, ông tự an ủi mình: “Thôi thì chẳng ở lại làng cùng anh em được thì tản cư âu cũng là kháng chiến!”

Xa làng rồi nhớ làng, tính nết ông Hai có phần thay đổi. Ông ít nói ít cười, lầm lầm lì lì, thậm chí cáu gắt, chửi bới vợ con. Ông vô cùng đau khổ: “Chúng mày làm khổ ông! Chúng mày làm khổ ông vừa vừa chứ! Ông thì giết hết, ông thì giết hết!”. Chúng ta cảm thông với “tâm sự” u uất của ông, thương ông lắm!

Trong lúc ông Hai đang hồ hởi với những chiến tích kháng chiến, những gương dũng cảm anh hùng của quân và dân ta thì ông như bị sét đánh vì cái tin “dữ” cả làng Chợ Dầu “Việt gian theo Tây”…, “vác cờ thần ra hoan hô” lũ giặc cướp! Ông tủi nhục cúi gằm mặt mà đi, nằm vật ra giường như bị ốm nặng, nước mắt cứ tràn ra, có lúc ông chửi thể một cách chua chát! Ông sống trong bi kịch triền miên. Vợ con vừa buồn vừa sợ. “Gian nhà lặng đi, hiu hắt”. Ông sợ mụ chủ nhà… có lúc ông nghĩ quẩn “hay là quay về làng”… nhưng rồi ông lại kiên quyết: Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây  mất rồi thì phải thù!”. Kim Lân rất sâu sắc và tinh tế miêu tả những biến thái vui, buồn, lo, sợ… của người nông dân vể cái làng quê của mình. Họ đã yêu làng trong tình yêu nước, đặt tình yêu nước lên trên tình yêu làng. Đó là một bài học vô cùng quý giá và sâu sắc của ông Hai đem đến cho mỗi chúng ta!

Cuộc đối thoại giữa hai bố  con ông Hai là một tình tiết cảm động và thú vị:

… – “À. Thầy hỏi con  nhé. Thế con ủng hộ ai?”

–  “Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!”

Nghe con ngây thơ nói mà nước mắt ông chảy ròng ròng trên hai má… Lòng trung thành của cha con ông, của hàng triệu nông dân Việt Nam đối với lãnh tụ là vô cùng sâu sắc, kiên định. Vẻ đẹp tâm hồn ấy của họ rất đáng tự hào, ca ngợi.

Vì thế, khi cái tin thất thiệt “cả cái làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây” được cải chính thì ông Hai là người sung sướng nhất. Ông “tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”, “mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ”… Ông mua quà cho con. Ông chạy sang nhà bác Thứ để “khoe” cái tin làng Chợ Dầu đánh giặc, nhà ông bị Tây đốt. Tự hào lắm chứ! Người đọc như được san sẻ niềm vui sướng cùng ông.

Gấp trang sách lại, chúng ta bồi hồi xúc động về tình yêu làng của ông Hai, về nghệ thuật kể chuyện tạo tình huống hấp dẫn, hồi hộp của nhà văn Kim Lân. Những phẩm chất tốt đẹp của ông Hai như cần cù lao động, chất phác, yêu quê hương đất nước… tiêu biểu cho bản chất cao quý, trong sáng của người dân cày Việt Nam. Chính họ đã đổ mồ hôi làm nên những bát cơm đầy dẻo thơm nuôi sống mọi người. Chính họ đã đem xương máu, đánh giặc “giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”.

“Quê hương là chùm khế ngọt… ” là niềm vui, nỗi buồn, là ước mơ đẹp của mỗi chúng ta. Quê hương đang đổi mới, “ngói hóa”, no ấm, giàu có trong thanh bình. Bài học sâu sắc nhất khi đọc truyện ngắn này của Kim Lân là tình yêu quê hương  đất nước, là lòng tự hào và biết ơn người dân cày Việt  Nam.

Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn Làng – Bài làm 2

Nhà văn Kim Lân là nhà văn tiêu biểu của nền văn học hiện đại của nước ta. Ông có một vốn sống vô cùng sâu sắc, gắn bó với làng quê, và người nông dân. Ông thường gắn liền tâm hồn mình với những trò chơi mang cốt cách của người nông dânnhư: Thả diều, nuôi chim bồ câu, chọi gà, câu cá, chơi hòn non bộ…Dường như Kim Lân hội tụ tất cả những gì thuộc về người nông dân Việt Nam.

Nhà văn Kim Lân không viết nhiều nhưng mỗi tác phẩm của ông đều mang tới cho người đọc một cái nhìn mới mẻ, sâu sắc về hình ảnh người nông dân.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Con cò của Chế Lan Viên

Trong truyện ngắn “Làng” của mình nhà văn Kim Lân đã khắc họa thành công hình ảnh ông hai một ông lão nông dân, có tấm lòng yêu nước yêu làng, hiền lành chất phác. Nhưng khi cách mạng nổ ra ông tuyệt đối trung thành với con đường giải phóng dân tộc mà cụ Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

Ông Hai nhân vật chính trong tác phẩm Làng là người nông dân, ngay thẳng sống lương thiện, cần cù. Ông hay làm hay làm lắm ở quê ông suốt ngày không lúc nào ông chịu ngơi tay. Công việc cứ luôn chân luôn tay, nhưng ông vui lắm. Những việc đồng áng của nhà nông như đi cày, đi cuốc, cấy, gặt… việc nào ông Hai làm cũng đều giỏi cả.

Ông Hai được may mắn sống qua hai chế độ, từ thời phong kiến cho tới khi cách mạng thành công lập ra chế độ mới. Trước khi ông hai mù chữ, nhưng từ khi có cách mạng, có cụ Hồ thì người nông dân như ông Hai cũng được tham gia lớp bình dân học vụ, xóa mù chữ…

Ông được đối xử như một người chủ của đất nước này thật sự, được làm chủ đồng ruộng của mình. Cuộc đời ông sang một trang mới được cầm tới quyển vở, cái bút, được học chữ viết…Ông vui lắm, ông biết ơn cách mạng và cụ Hồ Chí Minh nhiều lắm.

Làng của ông hai cái làng Chợ Dầu là nơi mà ông sinh ra và lớn lên, nơi chôn rau cắt rốn của ông. Nhưng do phải đi di tản nên ông đành tạm rời xa làng của mình lên một vùng kinh tế mới làm việc, sinh sống. Nhưng tận sâu trong đáy lòng ông Hai vẫn luôn mong nhớ về quê hương, về làng quê của mình.

Tình yêu đó ăn sâu bám rễ vào tâm hồn ông, nên đi đâu, trong mỗi câu chuyện của mình ông đều nhắc tới làng Chợ Dầu với tình cảm vô cùng thân thiết, trìu mến như làng ông có loa thông tin cao nhất vùng, làng ông được lát gạch đá xanh đi từ đầu làng tới cuối làng vào mùa mưa cũng không bị lấm chân, làng ông có gạo nếp cái thơm ơi là thơm…

Ông Hai yêu làng của mình với tình yêu của một người nông dân hiền lành, chất phác, giản đi trong cách sống và cách suy nghĩ. Nên khi ông yêu, ông nhớ tới làng, thì ông nhắc tới nó, ông khoe nó với tất cả mọi người để thỏa nỗi nhớ mong về làng của mình.

Nhưng rồi một lần ông hai nghe được bản tin sét đánh ngang tai rằng làng của ông, cái làng Chợ Dầu nổi tiếng với nhiều đặc sản, nổi tiếng anh hùng nhưng nay đã đầu hàng giặc, người dân trong làng giờ đều là Việt gian, làm tay sai cho Tây cả… khiến ông Hai đau đớn. Ông cảm thấy cổ họng mình nghẹn cứng, máu trong người như đông cứng lại, không thể nào mở miệng nói được điều gì.

Ông tủi nhục cúi gằm mặt mà bước đi, rồi khi về tới nhà ông nằm vật ra giường như người vừa trúng gió độc, hai hàng nước mắt của ông trào ra, có lúc ông không kìm được mình mà buông ra vài câu chửi thề chua xót.

Những ngày tiếp theo ông Hai sống trong bi kịch triền miên, vợ con gia đình ông phải sống trong nỗi tủi nhục sợ hãi. Những người dân ở vùng kinh tế mới không cho tá túc, họ xa lánh gia đình ông.

Chủ nhà đòi đuổi gia đình ông đi nơi khác, bởi họ không muốn chứa một người có nguồn gốc quê quán làm hán gian, làm tay sai cho giặc. Ông Hai đau đớn lắm. Ông yêu làng thật, yêu rất nhiều, tự hào rất nhiều, “Lần thì yêu thật, hưng làng mà theo Tây thì phải thù…”

Rồi có lúc ông uất hận kêu lên rằng ” Không biết những người làng, ăn gì mà ngu vậy để cho ông phải mang nhục nhã như thế này”. Trong lúc túng quẫn, không có chỗ nào để đi, cũng có lúc ông nghĩ tới phương án về lại làng quê xưa, về lại nơi chôn rau cắt rốn.

Nhưng rồi ông lại gạt phắt đi. Bởi làng đã theo Tây rồi, người trong làng giờ đều làm hán gian, làm tay sai cho giặc về đó để làm hán gian, phản bội đất nước thì ông không đời nào về. Dù ở đây, mọi người không ông tá túc, không cho ông sinh sống đuổi ông đi, thì ông cũng không đời nào về làng để làm Việt gian.

Thông qua nhân vật ông Hai tác giả Kim Lân đã khắc họa lên hình ảnh người nông dân chân chính, khi đã giác ngộ cách mạng thì không có điều gì có thể lay chuyển được họ. Những người nông dân dù ít học, không hiểu biết nhiều nhưng một khi họ đã được cảm hóa thì tinh thần yêu nước, đấu tranh căm thù giặc của họ còn cao hơn bất kỳ một người tri thức nào.

Họ đã đặt tình yêu đất nước, yêu tổ quốc lên trên tình yêu làng, tình yêu với nơi mình sinh ra và lớn lên. Đó chính là bài học sâu sắc mà nhà văn Kim Lân muốn gửi tới chúng ta.

Rồi một ngày làng Chợ Dầu của ông được minh oan, lãnh đạo làng Chợ Dầu lên tận vùng kinh tế mới để nói cho mọi người yên tâm, rằng làng ông vẫn theo cách mạng, vẫn theo cụ Hồ Chí Minh, làng của ông vừa giành thắng lợi lớn trong cuộc chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược, khiến cho ông Hai vui lắm, hãnh diện lắm.

Ông như trút bỏ được gánh nặng bấy lâu nay, ông vui mừng như đứa trẻ bị đòn oan nhưng nay lại được quà. Ông vui mừng đi khoe với tất cả mọi người rằng những thông tin kia chỉ là láo toét hết, là giả dối hết.

Người đọc như cảm thấy được niềm vui, sự xúc động của ông Hai khi tin làng ông theo Tây được cải chính. Thông qua tác phẩm của mình nhà văn Kim Lân muốn gửi tới tất cả người đọc tình yêu quê hương đất nước của những người nông dân lao động Việt Nam.

Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn Làng – Bài làm 3

“Làng quê”, hai tiếng thật êm đềm và thân thuộc biết bao. Đã có rất nhiều nhà văn, nhà thơ hướng ngòi bút của mình về giếng nước, gốc đa, con đò… hướng về những người nông dân thật thà, chất phác. Kim Lân là một trong những nhà văn viết truyện ngắn và khai thác rất thành công về đề tài này. Truyện ngắn “Làng” là một truyện ngắn thành công của Kim Lân gợi cho người đọc nhiều suy nghĩ về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp.

 Kim Lân vốn am hiểu và gắn bó sâu sắc với cuộc sống và con người ở nông thôn Việt Nam nên các truyện gắn của ông thường gây ấn tượng độc đáo, rất giản dị, chân chất về đề tài này. Truyện ngắn Làng cũng vậy, truyện ra đời trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp  và đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948, tại chiến khu Việt Bắc. Câu truyện xoay quanh nhân vật ông Hai và tình yêu làng Chợ Dầu. Với những chuyển biết trong nhận thức và suy nghĩ, ông Hai đã trở thành một điển hình của người nông dân Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám.

Như bao con người Việt Nam khác, ông Hai cũng có một quê hương yêu thương, gắn bó. Làng Chợ Dầu luôn là niềm tự hào và là kiêu hãnh của ông. Ông luôn khoe về làng mình, đức tính ấy như đã trở thành bản chất. Ông cũng như mọi người nông dân Việt Nam khác, có quan niệm rằng “Ta về ta tắm ao ta/ Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”, đối với họ, không có bất cứ đâu đẹp hơn nơi chôn rau cắt rốn của mình. Trước cách mạng, mỗi khi kể về làng, ông đều khoe về cái sinh phần của viên tổng đốc sừng sững ở cuối làng. Sau Cách mạng, làng ông đã trở thành làng kháng chiến, ông đã có nhận thức khác. Ông Hai không còn khoe về cái sinh phần ấy nữa mà ông lấy làm hãnh diện với sự cách mạng của quê hương, vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê mình. Ông khoe làng có “những hố, những ụ, những giao thông hào”, “có cái phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa, rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy”… Kháng chiến bùng nổ, ông Hai bất đắc dĩ phải rời làng đi tản cư. Trong những ngày buộc phải rời xa làng tâm trí ông luôn nhớ về nơi ấy, về những anh em đồng chí của mình, ông muốn “cùng anh em đào đường, đáp ụ, xẻ hào,khuân đá…’’.

 Ở nơi tản cư, ông luôn đến phòng thông tin để theo dõi và mong ngóng tin tức về làng nhằm nguôi ngoai nỗi nhớ. Trong lúc mong tin làng, những tin vui chiến thắng ở khắp nơi khiến ông vui sướng vô cùng, “ruột gan cứ múa cả lên”. Khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc từ người đàn bà đi tản cư, ông Hai vô cùng sửng sốt, “cổ họng ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được”. Đến khi nghe kể rành rọt, không thể không tin vào điều xấu ấy, niềm tin và tình yêu bấy lâu nay của ông về làng như sụp đổ. Ông đã “gầm mặt xuống”, đánh trống lảng rồi bước đi như kẻ trốn nợ. Về đến nhà, nhìn thấy các con, càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi”. Ông giận những người ở lại làng, nhưng điểm mặt từng người nhưng lại không tin họ theo giặc. Mấy hôm liền, ông không dám đi đâu vì xấu hổ, luôn bị ám ảnh cái tinh khủng khiếp ấy và hay hốt hoảng giật mình. Những ngày này mâu thuẫn nội tâm trong con người ông Hai diễn ra một cách quyết liệt và ngày càng dâng cao. Đã có lúc ông nghĩ đến việc “quay về làng” nhưng ông đã dứt khoát  “về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ”, “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Tuy quyết định như thế nhưng ông vẫn rất đau đớn xót xa. Tất cả những cử chỉ của ông Hai khẳng định tình yêu làng của ông đã hòa quyện vào cuộc kháng chiến của dân tộc và ông sẽ gắn bó cả cuộc đời với nó bằng suy nghĩ và hành động. Tình cảm đối với kháng chiến, đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông trút nỗi lòng vào lời nói với đứa con út ngây thơ: “Bố con mình theo kháng chiến, theo Cụ Hồ con nhỉ?” để giãi bày tâm sự, trút bỏ, an ủi lòng mình. Đồng thời, ông cũng truyền cả tình yêu nước sang cho con mình và khẳng định tình cảm của bố con ông với kháng chiến, với Cụ Hồ là trước sau như một.

Xem thêm:  Đề 8 – Tôi thấy mình đã khôn lớn – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9

Đau khổ là thế, lo âu là thế nhưng cái tin làng Chợ Dầu theo giặc đã được cải chính. Niềm vui trong ông Hai như vỡ òa. Ông chạy đi khoe ngay với bác Thứ rồi gặp bất cứ ai ông cũng khoe Tây đã đốt nhà mình như muốn chứng minh làng mình không theo giặc với tất cả niềm tin và tình cảm của ông. Đối với ông hai cũng như mọi người nông dân khác, con trâu, mảnh ruộng, gian nhà là vô cùng quý giá nhưng họ thà mất đi tất cả chứ không chịu mất nước và ý chí ý đã trở thành một truyền thống vô cùng tốt đẹp của dân tộc ta.

Cách mạng và sự nghiệp kháng chiến đã tác động mạnh mẽ, đem lại những nhận thức, những tình cảm mới lạ cho những người nông dân. Từ đó khiến họ nhiệt tình tham gia kháng chiến và tin tưởng tuyệt đối vào cách mạng, vào lãnh tụ. Ở nhân vật ông Hai, tình cảm đẹp đẽ có tính chất truyền thống của người nông dân Việt Nam là tình yêu làng quê đã được nâng lên thành tình yêu nước. Sự hòa quyện và gắn bó của tình yêu quê hương và tình yêu đất nước là nét mới mẻ trong nhận thức của người nông dân, của quần chúng cách mạng trong giai đoạn văn học chống Pháp.

Với kếu cấu đơn giản, xoay quanh nhân vật ông Hai với tình yêu làng sâu sắc, “Làng” đã để lại trong lòng người đọc nhiều ý vị sâu sắc. Làng Nhà văn Kim Lân đã xây dựng rất thành công nhân vật ông Hai với các phẩm chất tốt đẹp của người nông dân. Đồng thời nhà văn còn khôn khéo xây dựng tình huống thử thách làm bộc lộ chiều sâu tâm trạng của nhân vật. Tác giả đã miêu tả đặc biệt tài tình nội tâm của nhân vật với những suy nghĩ phức tạp, giằng xé. Tác giả đẩy các chi tiết đến cao trào rồi giải quyết một cách nhẹ nhàng, thỏa đáng và có hậu, tạo hứng thú và bất ngờ cho người đọc, người nghe. Cách sử dụng từ ngữ địa phương mộc mạc, gần gũi với nông dân trong đối thoại, giao tiếp  kết hợp với sự hiểu biết sâu sắc về cuộc sống của họ khiến những trang viết của Kim Lân thật gần gũi nhưng không kém phần sâu sắc.

Nhân vật ông Hai gây ấn tượng mạnh mẽ và để lại nhiều tình cảm tốt đẹp, sự yêu mến, trân trọng và cảm phục trong lòng người đọc. Tình yêu làng của ông Hai mang tinh chất truyền thống đã được nâng lên thành tình yêu nước nồng nàn như “ dòng suối đổ vào sông, dòng sông đổ vào dải trường giang Vônga, dòng sông Vônga đi ra biển..”. Qua nhân vật ông Hai như là nông dân với những phẩm chất tốt đẹp bước từ đời thực vào tác phẩm, có được những biểu hiện cụ thể, sinh động vè tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc.

Làng” đã trở thành một truyện ngắn đặc sắc, Kim Lân đã thành công trong việc thể hiện những chuyển biến mới mẻ trong nhận thức và tình cảm của người dân Việt Nam. Nhân vật ông Hai đã trở thành một hình tượng điển hình cho những người nông dân Việt Nam cần cù, chất phác nhưng luôn cháy bỏng tình yêu quê hương, yêu đất nước. Họ đã góp phần làm nên thắng lợi của cách mạng và là nhân tố trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Bản thân mỗi chúng ta cần phải học tập tấm gương của họ, ngày càng yêu thương quê hương, đất nước mình hơn.

Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn Làng – Bài làm 4

Làng quê luôn là đề tài quen thuộc trong văn học Việt Nam cả xưa lẫn nay. Những khung cảnh làng quê, bến nước, gốc đa, sân đình đến những người nông dân chân lấm tay bùn, quanh năm tần tảo bên cánh đồng của mình-tất cả đều gợi cho chúng ta, nhất là những ai sinh ra và lớn lên ở làng quê cảm xúc đặc biệt. Truyện ngắn “Làng” của cố nhà văn Kim Lân là một trong những câu chuyện như vậy, qua nhân vật ông Hai, nhà văn đã chạm tới ngõ ngách của cảm xúc về một ngôi làng mà nhân vật chính đã gắn bó lâu nay.

Trong truyện ngắn Làng, ông Hai là nhân vật chính. Ông là một nông dân thứ thiệt, hiền lành, cần mẫn, chất phác và tràn đầy tinh thần yêu nước. Giống như nhiều nông dân khác, ông Hai gắn bó với làng quê, gắn bó với làng Dầu, nơi ông đã sinh ra và lớn lên. Vì vậy, ông yêu ngôi làng của ông lắm, yêu từ con đường toàn “lát đá xanh”, rồi yêu những  “nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh”… tất cả hình ảnh của quê hương đều nằm gọn trong trái tim.

Ông Hai không chỉ yêu nơi chôn rau cắt rốn của mình mà ông còn tự hào về nó. Đi đâu ông cũng khoe, gặp ai ông cũng kể về làng Dầu. Mà ông Hai tự hào cũng đúng thôi, bởi cái làng của ông có truyền thống kháng chiến chống giặc, từ thanh niên trai tráng đến những ông già tóc trắng bạc phơ đều đều vác gậy gộc đi tập quân sự, có cái “chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy”… Dưới ngòi bút của nhà văn Kim Lân, dường như cuộc đời của ông Hai đều gắn liền với ngôi làng Chợ Dầu và mọi cảm xúc của lão nông này đều gắn với những thăng trầm của quê hương mình. Thế nên, dù vợ con ông có phải đi tản cư do chiến tranh thì ông vẫn quyết bám làng, bám ruộng, bám vào những con đường ngõ nhỏ làng quê, cùng thanh niên, bộ đội đào hào giao thông chống giặc.

Thế nhưng, cuối cùng ông cũng phải xa cái làng Dầu thân yêu của mình. Khi gia đình neo đơn, vợ con thúc ép, ông buộc phải tạm thời đi di tản. Cái ngày ông phải xa cái làng yêu thương ấy, ông buồn lắm. Cảm xúc buồn-vui cứ đan xen trong lòng. Ông chẳng muốn rời xa nó và chỉ đến khi không thể không xa, ông chỉ biết buột ra một câu, “Thôi thì chẳng ở lại làng cùng anh em được thì tản cư âu cũng là kháng chiến!”. Với một người gắn bó với làng quê, gắn bó với ruộng vườn…việc rời quê hương là một điều thật khó khăn, thật khó chấp nhận.

Tình yêu Làng của ông Hai như thể hiện rõ ràng hơn khi ông di tản tới mảnh đất mới, tính khí của ông đã thay đổi hẳn. Vẫn là một nông dân hiền lành, chất phác nhưng không hay nói, hay lam, hay làm như trước nữa. Ông ít nói, ít cười hơn, cứ lầm lầm thậm chí còn gắt gỏng đổ thừa cho vợ con là những người làm ông khổ, làm ông nên nông nỗi này. Ông sống mà như chết, cứ lặng lẽ vào ra như thiếu vắng một điều gì đó khủng khiếp.

Xem thêm:  Em có suy nghĩ gì về việc học môn Lịch sử? Hãy viết bài văn ngắn nêu lên suy nghĩ của bản thân

Dù tính tình thay đổi, dù lặng lẽ, gắt gỏng nhưng trong lòng ông Hai vẫn hướng về quê hương, chưa một thôi mong chờ tin tức của làng quê. Thế rồi bao mong ngóng của ông đều đã đến nhưng lại là một tin dữ chẳng khác gì sét đánh ngang tai, đó là tin cả làng Dầu của ông theo giặc, rồi vác cờ ra tung hô bọn cướp nước. Với một người yêu thương làng quê vô bờ bến, yêu hơn cả bản thân mình, thì cái tin đó đã đánh gục ông. Cả gian nhà của ông đều lặng đi, chẳng ai nói với ai câu nào. Riêng phần ông Hai, nước mắt cứ thế mà chảy xuống, rồi có lúc bí bách quá ông chỉ biết chửi thề một câu.

Nhà văn Kim Lân đã tạo ra một tình huống truyện độc đáo, lột tả chân thật diễn biến tâm lý nhân vật. Những cung bậc cảm xúc của nhân vật ông Hai, từ vui-buồn, yêu-ghét, hiền lành đến giận dữ… đều được nhân vật ông Hai bộc lộ một cách chân thực nhất. Và chính vì yêu thương làng vô bờ bến, tin tưởng vào truyền thống của Làng mà ông thực sự giận dữ khi hay tin cả làng theo giặc. Ông giận dữ đến mức, không muốn quay trở về cái làng đã theo giặc ấy, từ chỗ yêu thương đến lòng thù hận và coi cái làng – nơi ông sinh ra, lớn lên là kẻ thù.

Thế đấy, nhà văn Kim Lân thật tài tình khi lồng ghép tình yêu làng quê của ông Hai thực ra là tình yêu với tổ quốc, với đất nước này. Ông tin tưởng tài lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh, kiên định với cuộc kháng chiến cứu nước. Ông Hai chính là đại diện của hàng triệu nông dân Việt Nam khi ấy.

Chính vì tin tưởng vào cuộc kháng chiến, tin tưởng vào lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mà khi biết rằng, cái Làng của ông đi theo giặc chỉ là tin đồn thất thiệt thì người vui sướng nhất chính là ông Hai. Ông vui như một đứa trẻ, cặp mắt hừng đỏ, ông trở lại với người nông dân chân chất, hay nói, hay cười, rồi chạy đi mua quà cho con. Thậm chí, ông còn sang ông Thứ để khoe nhà ông bị Tây đốt và cả cái làng Dầu của ông đang chống giặc mạnh mẽ. Đọc đến đến, có lẽ mỗi chúng ta đều cảm thấy vui lây với nhân vật chính của truyện.

Làng của ông Hai dù là ngôi làng trong thời chiến, tình yêu ông Hai dành cho ngôi làng của mình cũng là tình yêu trong thời chiến. Nhưng dù là thời chiến hay thời bình, thì làng quê vẫn vậy. Vẫn thấm đẫm những ngôi nhà, ngõ nhỏ, vườn tược, cánh đồng, con trâu, con bò, đàn gà, đàn lợn… dù chúng ta không phải là ông Hai, không được sống trong thời kỳ cả nước cùng kháng chiến nhưng tôi tin tình yêu Làng của ông Hai cũng là tình yêu của hàng triệu, hàng triệu nông dân, hàng triệu con người sinh ra và lớn lên ở làng quê. Tác phẩm Làng của Kim Lân vì vậy mà sống mãi với thời gian.

Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn Làng – Bài làm 5

Làng là một truyện ngắn có cốt truyện rất đơn giản, tập trung vào diễn tả tâm trạng của nhân vật chính – ông Hai, hay có thể nói đây là một kiểu cốt truyện tâm lí.

Ngòi bút miêu tả tâm lí của Kim Lân càng tỏ ra sâu sắc khi đặt nhân vật ông Hai vào một tình huống thử thách để làm bộc lộ chiều sâu tâm trạng của nhân vật đó là tình huống ông Hai đột ngột nghe tin dữ: Làng Chợ Dầu của ông theo giặc lập tề.

Cái tin ấy đến với ông vào một buổi trưa giữa lúc tâm trạng ông đang rất phấn chấn vì nghe được nhiều tin ta đánh thắng giặc trên tờ báo ở phòng thông tin. Cai tin ấy quá đột ngột, khiến ông sững sờ đến nỗi “cổ ông lão nghẹn đắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được”. Khi trấn tĩnh lại được phần nào, ông đã cố gắng gặng hỏi để hi vọng cái tin ấy là không đúng sự thật. Nhưng người đưa tin lại kể rành rọt quá và khẳng định là họ vừa mới từ dưới ấy lên, nên ông không thể nào nghi ngờ gì nữa. Từ lúc ấy, ông Hai rơi vào tình trạng đau đớn, tủi hổ ngày càng nặng nề. Trước càng tự hào, hãnh diện bao nhiêu về cái làng của mình thì nay ông Hai lại càng đau đớn, tủi hổ bấy nhiêu. Suốt ngày ông không bước ra đến ngõ. Ông chỉ quanh quẩn trong gian nhà chật hẹp, lắng tai nghe động tĩnh bên ngoài: “Một đám đông tụm lại ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”. Cứ thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam-nhông… là ông lủi ra một góc nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi!”… Tác giả đã diễn tả rất cụ thể và sâu sắc cái tâm trạng nặng nề đến thành một nỗi sợ sệt luôn ám ảnh trong tâm trí ông Hai.

Không khí nặng nề bao trùm cả gia đình ông từ khi có cái tin ấy. Cả nhà, từ ông Hai, bà Hai đến lũ trẻ con đều sống trong tâm trạng nặng nề, nơm nớp, không ai dám nói to, trẻ con cũng không dám cười đùa. Lòng tự hào về làng quê của ông đã bị tổn thương nặng nề. Nỗi tủi hổ vì là dân của cái làng Việt gian theo Tây đè nặng khiến ông Hai không dám ló mặt ra ngoài, đến cả bên bác Thứ ông cũng không dám sang. Tình thế của ông Hai và gia đình càng khốn đốn hơn khi mà mụ chủ nhà đã ngỏ ý không cho nhà ông ở nhờ nữa mà nghe nói đã có lệnh không chứa chấp những người của cái làng Chợ Dầu theo Tây. Nhưng chính trong tình thế ấy mới càng bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê đã thống nhất với lòng yêu nước của một người nông dân bình thường như ông Hai. Trong lúc dường như đã tuyệt vọng tất cả đường sinh sống, ông Hai thoáng có ý nghĩ: “Hay là quay về làng?”. Nhưng ông đã gạt ngay ý nghĩ ấy, bởi vì làng bây giờ đã theo Tây, bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ, là cam chịu trở lại với kiếp nô lệ nhục nhã mà chỉ mới nghĩ đến ông đã thấy rung mình. Bởi thế mà ông Hai đã tự xác định một cách đau đớn nhưng dứt khoát: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”.

Sự mở rộng và thống nhất của tình yêu quê hương trong tình yêu nước và tình cảm giai cấp là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kì kháng chiến đã chú trọng làm nổi bật.

Góp phần vào thành công của truyện ngắn Làng, ngoài nghệ thuật xây dựng tình huống và miêu tả tâm lí, còn phải kể đến đặc sắc của ngôn ngữ nghệ thuật – cả ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ trần thuật.

Kim Lân không thuộc số nhà văn mà khi đi vào cách mạng và kháng chiến phải cố gắng hết sức từ bỏ con người cũ của mình để thâm nhập vào đời sống của nhân dân ta và sáng tác theo phương hướng “đại chúng hóa”. Kim Lân vốn đã rất am hiểu và gần gũi với những nhân vật quần chúng của mình, nhà văn để họ được nói năng, suy nghĩ, hành động một cách hết sức tự nhiên mà bộc lộ được tâm lí, cá tính rất sinh động. Trong truyện Làng, từ nhân vật chính – ông Hai – đến nhân vật phụ nữ – mụ chủ nhà đều có ngôn ngữ vừa rất đại chúng vừa rất riêng của mình. Ngôn ngữ của ông Hai – cả trong những lời đối thoại và lời độc thoại đều rõ ra lời ăn tiếng nói, cách nghĩ của một ông lão nông dân vốn gắn bó thiết tha với làng quê và rất thành tâm với cách mạng, với kháng chiến. Đây là tấm lòng thủy chung với kháng chiến được bộc bạch qua những lời tâm sự của ông với những đứa con và cũng tự nhủ: “Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông. Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai”.

Truyện ngắn Làng đã tạo được một giọng điệu trần thuật tự nhiên, thân mật và đôi khi dí dỏm nhưng đôn hậu. Đó cũng là một yếu tố góp phần làm nên thành công của thiên truyện Làng.

Cảm ơn các bạn các bạn vừa đọc xong top những bài văn phát biểu cảm nghĩ về truyện ngăn Làng hay nhất đạt được điểm cao của các bạn học sinh giỏi. Chúc các bạn viết cho mình một bài văn phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn Làng thật hay và đạt được điểm cao nhé.