Phát biểu cảm nghĩ về truyện Sống chết mặc bay

Phát biểu cảm nghĩ về truyện Sống chết mặc bay

Top những bài làm văn phát biểu cảm nghĩ về truyện Sống chết mặc bay hay nhất của các bạn học sinh giỏi đạt điểm cao. Mời các bạn đọc tham khảo và dựa vào đây viết một bài văn phát biểu cảm nghĩ về truyện Sống chết mặc bay thật hay và đạt được điểm cao.

Phát biểu cảm nghĩ về truyện Sống chết mặc bay – Bài làm 1

Bước vào thế kỉ XX, văn học nói chung, truyện (truyện ngắn, truyện dài) Việt Nam nói riêng có nhiều đổi mới, mang tính hiện đại. Truyện ngắn hiện đại thiên về tính chất hư cấu, cốt truyện phức tạp hơn, khắc hoạ được nhiều hình tượng, chi tiết sinh động nhằm phát hiện bản chất trong quan hệ nhân sinh, trong đời sống tâm hồn con người phong phú, tinh tế hơn truyện cổ tích, truyện ngắn, tiểu thuyết thời xưa. Một trong những tác phẩm mở đầu cho truyện ngắn hiện đại là truyện Sống chết mặc hay của Phạm Duy Tốn.

Tác phẩm kể chuyện một viên quan phủ đang làm nhiệm vụ cai quản, chỉ đạo nhân dân đắp đê chống bão lụt ở một vùng sông nước Bắc Bộ trong một đêm vào đầu thế kỉ XX. Câu chuyện có thể chia ba đoạn.  Đoạn một: từ “Gần một giờ đêm…” đến “… Khúc đê này hỏng mất”: nguy cơ đê vỡ và sự chống đỡ tuyệt vọng của người dân.  Đoạn hai: từ “Ấy, lũ con dân…” đến “… Điếu mày”: cảnh quan phủ và nha lại đánh tổ tôm trong khi “đi hộ đê”.  Đoạn ba: phần còn lại: cảnh đê vỡ, nhân dân lâm vào tình trạng thảm sầu.  Với tiêu đề Sống chết mặc bay, dường như tác giả Phạm Duy Tốn muốn tập trung phát hiện và nghiêm khắc phê phán thái độ vô trách nhiệm, bỏ mặc nhân dân trong tình cảnh khốn cùng của một viên quan phủ khi xuống địa phương chỉ đạo việc hộ đê. Đọc tác phẩm, chúng ta nhận rõ nhà văn đã xây dựng các chi tiết, tình huống tương phản, tăng cấp rất đặc sắc. Hai mặt tương phản đó là: trong khi nhân dân phải vật lộn căng thẳng, vất vả đến cực độ trước bão lụt thì viên quan phủ cùng nha lại, chánh tống – những kẻ chức sắc ở địa phương – say sưa cờ bạc, không mảy may nghĩ tới việc chỉ đạo dân “hộ đê”. Đúng là hai bức tranh đời tương phản, đối lập gay gắt, khiến người đọc phải suy ngẫm và xúc động… Bức tranh thứ nhất, cảnh nhân dân chống bão lụt: về thời gian, đây là lúc “gần một giờ đêm” nghĩa là thời điểm khuya khoắt, mà khi bình thường, mọi người đang ngủ say. Xác định thời gian nửa đêm như thế, nhà văn muốn nói rằng: cuộc hộ đê của nhân dân nơi đây đã kéo dài suốt cả ngày đến tối, tới tận đêm khuya mà chưa được ngơi nghỉ. Nặng nề và căng thẳng biết bao! Trong khi đó, mưa, gió mỗi lúc một mạnh. “Mưa tầm tã”, rồi lại “trên trời thời vẫn mưa tầm tã trút xuống”. Phối hợp với mưa, nước sông cũng mỗi lúc một dâng cao. “Nước sông Nhị Hà lên to quá” rồi lại “nước cứ cuồn cuộn bốc lên”. Giữa cảnh trời, nước dữ dằn, bạo liệt như thế, công cuộc hộ đê của nhân dân diễn ra thế nào? Nhốn nháo, căng thẳng, vất vả, cơ cực, khốn khổ, hiểm nguy vô cùng! “Hằng trăm nghìn con người… kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy… người nào người nấy lướt thướt như chuột lột… Trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hổi, tiếng người xao xác gọi nhau…”. Ngôn ngữ miêu tả rất tập trung. Những tính từ, động từ dồn dập, nối nhau: “tầm tã… tầm tã… cuồn cuộn, đội, vác, đắp, cừ,… bì bõm”, kết hợp một hình ảnh so sánh “người nào người nấy lướt thướt như chuột lột” khiến cho người đọc có cảm tưởng được trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy, và đang sống giữa một cuộc đắp đê chống bão lụt có thật. Cùng với những từ ngữ, câu văn tả thực, nhà văn điểm vào vài ba câu cảm thán “xem chừng núng thế lắm… không khéo thì vỡ mất… Tình cảnh trông thật là thảm… Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời. Lo thay! Nguy thay!…”. Sự yếu kém của đê điều, sức lực của con người trước thiên tai mỗi lúc một thê thảm, rất đáng lo ngại, rất đáng xót thương! Phạm Duy Tốn đã kết hợp ngòi bút tả thực với biểu cảm, trữ tình, dẫn người đọc vào trung tâm cuộc chống đê lay động lòng người, đánh thức những tình cảm đúng đắn trong chúng ta. Bức tranh đời thứ hai, tương phản với cảnh nhân dân chống lụt cơ cực, vất vả là cảnh viên quan phủ cùng tay chân chơi bời, cờ bạc, hưởng thụ, để dân… Sống chết mặc bay. Ở bức tranh này, nhà văn cũng dùng ngòi bút tả thực, chân thực đến… lạnh lùng, về địa điểm, bọn quan lại ấy đang ngồi ở trong đình vững chãi, đê vỡ cũng không sao. Quang cảnh, không khí tĩnh mịch, trang nghiêm, mọi người nhàn nhã đánh tổ tôm. “Đèn thắp sáng trưng ; nha lộ, lính tráng kẻ hầu người hạ đi lại…”. Đặc biệt là hình ảnh viên quan phủ. Hắn “uy nghi, chễm chệ ngồi. Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra để cho tên người nhà quỳ ở dưới đất mà gãi…”. Bên cạnh, xung quanh hắn là bọn lính lệ chầu chực đợi sai khiến và những vật dụng quý giá, đắt tiền như bát yến hấp đường phèn, khay khảm, tráp đồi mồi đựng trầu vàng, cau đậu,… Lại thêm cả đồng hồ vàng, dao chuôi ngà, ống vôi chạm bạc, ngoáy tai, ví thuốc,… Đúng là hình ảnh của một kẻ giàu sang, phú quý, mang danh đi chỉ dạo dân hộ đê mà như đi chơi, để khoe khoang của cải. Đúng là hắn đi… chơi! Giữa lúc nhân dân đang trăm thảm, nghìn sầu thì tên quan cùng đồng bọn say sưa, đắm minh trên chiếu bạc. Ngồi xung quanh hắn, một lũ tay chân nín thin thít hầu hạ quan, tạo mọi điều kiện để quan được thắng bạc. Đến thời điểm ngoài kia đê sắp vỡ, sự gắng sức của dân lên đến đỉnh điểm, thì viên quan hồi hộp dđợi chờ ván bài ù to.  Ở phần cuối bức tranh, quan phủ ngồi đợi thắng bạc, tác giả sử dụng nghệ thuật miêu tả tăng cấp rất ấn tượng, rất hồi hộp. Hình ảnh đối lập vì thế càng gay gắt. Nghe ngoài xa vẳng vào tiếng kêu vang trời, có người khẽ nói: “Bẩm, đê có khi đê vỡ!”. Tên quan gắt: “Mặc kệ!”. Khi một người nhà quê hớt hải chạy vào báo tin “Bẩm quan lớn đê vỡ mất rồi” thì tên quan đỏ mặt tía tai quát mắng: “Đê vỡ rồi!… thời ông cách cổ chúng mày, bó tù chúng mày!”. Hắn đã quên hết nhiệm vụ giúp dân chống lụt, để chỉ đợi một quân bài. Sự đối lập giữa tình cảnh khốn khổ của dân chúng, nỗi âu lo của mọi người xung quanh và thái độ vô trách nhiệm của tên quan lên đến đỉnh điểm. Nhưng chưa dừng lại. Sự đối lập vẫn tiếp tục tăng cấp. Trong khi thầy đề “tay run cầm cập thò vào đĩa nọc…” (nghĩa là người nhân viên này cùng mọi người xung quanh rất lo sợ trước cảnh đê vỡ), thì tên quan sung sướng hả hê ngả ra những quân bài, ù một ván to. Không những thế, hắn còn vỗ tay xuống sập kêu to, miệng vừa cười vừa nói: “Ù! Thông tôm, chi chi nảy!… Điếu, mày!”. Nghĩa là kẻ quan liêu, vô trách nhiệm ấy reo vui, sung sướng đến tột đỉnh được hướng thụ một món tiền lớn, giữa lúc nhân dân đau khổ cũng đến mức độ thẳm sâu, không thể đo được. Tình huống truyện diễn biến đến đây quả là căng thẳng, sự tương phản, đối lập quả là gay gắt, mâu thuẫn không thể dung hoà. Người đọc như bị cuốn vào câu chuyện và cũng cảm thấy căng thẳng, ngột ngạt, bức bối, tràn đầy nỗi tức giận, căm ghét tên quan vô trách nhiệm, tham tiền và tràn đầy tình cảm xót thương những người dân khốn khổ bị lãng quên, bị bỏ mặc… Giận và thương, hai cung bậc cảm xúc ấy dường như thấm đẫm trong từng từ ngữ, câu văn. Kết thúc truyện nhà văn viết: “Ấy, trong khi quan lớn ù ván to như thế, thì khắp mọi nơi miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết ; kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm sầu, kể sao cho xiết!”. Câu văn kéo dài, nhấn mạnh hai bức tranh đời tương phản, vừa kể chuyện vừa miêu tả, vừa biểu ý vừa biểu cảm. Nhịp câu biền ngẫu, đối xứng lâm li, hài hoà tiếng nấc nghẹn, căm phẫn với dòng nước mắt xót đau, thương cảm.

Bằng sự khéo léo trong việc vận dụng kết hợp hai phép tương phản và tăng cấp trong nghệ thuật, tác giả Sống chết mặc bay đã lên án gay gắt tên quan phủ “lòng lang dạ thú” trước sinh mạng của người dân và bày tỏ niềm cảm thương của mình trước cảnh “nghìn sầu muôn thảm” của nhân dân do thiên tai và cũng do thái độ vô trách nhiệm của kẻ cầm quyền đưa đến. Hai bức tranh đời tương phản, trái ngược ấy đậm đà chất hiện thực và thấm đẫm cảm hứng nhân đạo, nhân văn.

Phát biểu cảm nghĩ về truyện Sống chết mặc bay – Bài làm 2

Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn là một tác phẩm xuất sắc, được xem là “bông hoa đầu mùa” của truyện ngắn Việt Nam hiện đại bởi đó là một trong những truyện ngắn đầu tiên được viết bằng chữ quốc ngữ.

Xem thêm:  Trong đoạn kết của truyện ngắn Bến quê, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã tập trung miêu tả chân dung và cử chỉ của nhân vật Nhĩ với vẻ rất khác thường: Anh… đó. Viết đoạn văn ngắn (8 – 10 câu) nêu ý nghĩa hành động trên của nhân vật này

Nội dung câu chuyện kể về sự kiện vỡ đê, nhân vật chính đó là viên quan phủ. Cốt truyện diễn biến theo trình tự thời gian. Tác giả đã vẽ nên bức tranh tương phải giữa việc ăn chơi hưởng lạc của những kẻ cầm quyền với nỗi cơ cực, thê thảm của dân chúng. Thông qua đó còn lên án gay gắt giữa giai cấp thống trị thối nát, bất tài và vô trách nheiejm trước tính mạng của người dân nghèo, đồng thời còn bày tỏ mối cảm thương thực sự sâu sắc của mình trước những đau thương và hoạn nạn của đồng bào.

Mở đầu cho câu truyện được tả với nhiều chi tiết cụ thể về thời gian không gian: “Gần một giờ đêm. Trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị Hà lên to quá. Khúc sông làng X, thuộc phủ X xem chừng núng thế lắm, hai ba đoạn đã thẩm lậu rồi, không khéo thì vỡ mất”.

Cảnh hằng trăm nghìn con người hốt hoảng chạy ngược xuôi lo vỡ đê, tìm mọi cách để giữ cho đê không bị vỡ trước sức tấn công khủng khiếp của dòng lũ đã được tác giả miêu tả bằng ngòi bút hiện thực thấm đẫm cảm xúc xót thương… “kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy ngập quá khuỷu chân, người nào người nấy lướt thướt như chuột lột”.

Không khí đã diễn tới đỉnh điểm “ Tuy trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người xao xác gọi nhau sang hộ, nhưng xem chừng ai cù củng mệt lử cả rồi. Ấy vậy mà trên trời thời vẫn mưa tầm tã trút xuống, dưới sông thời nước cứ cuồn cuộn bốc lên. Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời! Thế đê không sao cự lại được với thế nước! Lo thay! Nguy thay! Khúc đê này hỏng mất. Cảnh những người dân loay hoay, tuyệt vọng chống chọi với nước lại hoàn toàn trái ngược với những gì diễn ra ở trong đình: “Ấy, lũ con dân đang chân lấm tay bùn, trăm lo nghìn sợ, đem thân hèn yếu mà đối với sức mưa to nước lớn, để bảo thủ lấy tính mạng gia tài, thế thời nào quan cha mẹ ở đâu?”

Thưa rằng: Đang ở trong đình kia, cách đó chừng bốn năm trăm thước. Đình ấy củng ở trên mặt đê, nhưng cao mà vững chãi, dẫu nước to thế nữa, cũng không việc gì.

Ở trong hai cảnh này tác giả đã kể chuyện về viên quan phủ đang chơi tổ tôm với đám quan lại và được lũ sai nha, lính hầu hạ, cung phụng tới nơi tới chốn. giọng văn lúc này tường thuật một cách khách quan, chi tiết, cụ thể nhưng mà đằng sau nó lại chứa chất về thái độ mỉa mai, châm biếm có phần phẫn uất.

Đáng ra trước tình thế đo, người phụ mẫu của dân phải ra chỉ đạo hộ dân nhưng trớ trêu thay lại ở trong đình với không khí nhàn hạ, chiễm chệ: “ đèn thắp sáng trưng; nha lệ, lính tráng, kẻ hầu người hạ, đi lại rộn ràng. Chân dung của quan lớn được hiện lên thật cụ thể, sắc nét: Trên sập; mới kê ở gian giữa, có một người quan phụ mẫu, uy nghi chễm chệ ngồi. Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra, để cho tên người nhà quỳ ở dưới đất mà gãi. Một tên lính lệ đứng bên, cầm cái quạt lông, chốc chốc sẽ phẩy…”

Qua đây cho thấy quan nhàn hạ, ung dung và không hề quan tâm tới tình cảnh thảm thương của dân chúng ở phía bên ngoài. Với việc dựng lên hai cảnh tượng đối lập như vậy, tác giả có dụng ý nói lên nỗi thống khổ của dân đen phải trải qua và qua đó còn tố cáo thái độ vô trách nhiệm, vô lương tâm của tên quan vô lại.

Lúc này người độc không thể tưởng tượng nổi là trong tình cảnh nước sôi lửa bỏn như thế, tính mạng của cải của hàng nghìn người dân đáng thương đang bị đe dọa từng giây từng phút thế mà tên quan vô lại kia lại ngồi điềm nhiên vui chơi hưởng thú vui.

“ Bên cạnh ngài, mé tay trái, bát yến hấp đường phèn để trong khay khảm, khói bay nghi ngút, tráp đồi mồi chữ nhật để mở, trong ngăn bạc đầy những trầu vàng, cau đậu, rễ tía, hai bên nào ống thuốc bạc, nào đồng hồ vàng, nào dao chuôi ngà, nào ống vôi chạm, ngoáy tai, ví thuốc, quản bút, tăm bông trông mà thích mắt.

Từng chi tiết như khắc ghi tâm cốt của người độc, nó lại hoàn toàn trái ngược với hình ảnh của người dân, làm cho người đọc tê tái cả cõi lòng, có phần uất hận, căm phẫn thay cho dân đen: … mưa gió ầm ầm, dân phu rối rít… trăm họ đang vất vả lấm láp, gội gió tắm mưa, như đàn sâu lũ kiến ở trên đê.

Sự đối lập này nhằm phê phán sự tàn bạo, độc ác và vô nhân đạo của tên quan phủ và những gì mà dân chúng phải hứng chịu.

Có người bẩm báo là có khi đê vỡ, hắn trả lời thật phũ phàng: Mặc kệ! Sau đó lại tiếp tục đánh bài. Thú vui cờ bạc và những đồng tiền vơ vét được từ ván bài đã làm cho hắn mất hết lương tri, nhân tính.

Tính cách của tên quan phủ còn được miêu tả khá là tỉ mỉ từ cử chỉ, lời nói tiêu biểu. “ Khi đó, ván bài quan đã chờ rồi. Ngài xơi bát yến vừa xong, ngồi khểnh vuốt râu, rung đùi, mắt đang mải trông đĩa nọc…” Khi có người chạy vào báo tin đê vỡ, quan đỏ mặt tía tai, quay ra quát rằng: “Đê vỡ rồi! Đê vỡ rồi, thời ông cách cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày! Có biết không? Lính đâu? Sao bay dám để cho nó chạy xồng xộc vào đây như vậy? Không còn phép tắc gì nữa à? Khi chơi bài, quan lớn tỏ ra vô cùng thành thạo: ù Ị Thông tôm, chi chi nảy!… Điếu, mày!”

Trong khi miêu tả và kể chuyện cảnh hộ để tác giả thực sự thấy thương xót đồng cảm cho dân chúng: “Than ôi! Cứ như cái cách quan ngồi ung dung như vậy, mà hai bên tả hữu, nha lại nghiêm trang, lính hầu rầm rập, thì đố ai dám bảo rằng: gần đó có sự nguy hiểm to, sắp sinh ra một cảnh nghìn sầu muôn thảm, trừ những kẻ lòng lang dạ thú, còn ai nghĩ đến, mà chẳng động tâm, thương xót đồng bào huyết mạch!…”

Ở trong đoạn cuối tác giả vừa dùng ngôn ngữ miêu tả lại vừa dùng biểu cảm để miêu tả về cảnh tượng vỡ đê và tỏ lòng ai oán cảm thương của mình đối với những người nông dân khốn cùng. Nhà văn muốn nhấn mạnh rằng cuộc sống lầm than đói khỏ của nhân dân không phải là do thiên tai gây nên mà trước tiên là do thái độ vô trách nhiệm, vô nhân đạo của kẻ cầm quyền đương thời.

Nghệ thuật tăng cấp được được nhà văn sử dụng tài tình xuyên suốt có tác dụng nhấn mạnh về ý nghĩa của tác phẩm, làm khắc họa rõ rệt về nét tính cách của nhân vật chính đó là tên quan phụ mẫu.

Nhờ sự khéo léo giữa việc kết hợp thủ pháp nghệ thuật tương phản và tăng cấp trong việc miêu tả, kể chuyện cho nên tác giả truyện sống chết mặc bay đã đạt được mục đích lên án gay gắt tên quan phủ độc ác và qua đó bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc đối với người dân.

Phát biểu cảm nghĩ về truyện Sống chết mặc bay – Bài làm 3

Phạm Duy Tốn là một trong số ít những nhà văn thành công trong thể loại truyện ngắn hiện đại vào cuối thế kỉ XIX đầu XX. Truyện ngắn “Sống chết mặc bay” là một trong những tác phẩm tiêu biểu, đặc sắc nhất của ông. Bằng ngòi bút sắc sảo của mình, nhà văn đã lên án, phê phán gay gắt bọn quan lại vô lương tâm, vô trách nhiệm với nhân dân gây nên bao cảnh lầm than, bi đát cho trăm họ.

Mở đầu truyện là cảnh thiên tai ập đến dân chúng giữa đêm khuya: “Gần một giờ đêm. Trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị Hà lên to quá, khu đê làng X. thuộc phủ X. xem chừng núng thế lắm, hai ba đoạn đã thẩm lậu rồi, không khéo thì vỡ mất”. Giữa đêm khuya, hàng trăm người kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy…lướt thướt như chuột lột”. Bên trên “mưa tầm tã như trút xuống”, ở dưới “nước cứ cuồn cuộn bốc lên”. Quả thật là một tình cảnh hết sức gian nan, vất vả cho dân làng. Thiên tai thì năm nào cũng có, nhưng thiên tai bão lũ lúc nửa đêm thế này thì ai mà không lo lắng, sợ hãi lỡ đê vỡ mất thì khủng khiếp biết nhường nào!

Trong lúc “lũ con dân đang chân lấm tay bùn, để bảo thủ lấy tính mạng gia tài “thì trong đình” đèn thắp sáng trưng, nha lệ lính tráng, kẻ hầu người hạ, đi lại rộn ràng”. Cảnh này sao quá đỗi nghiêm trang, thanh bình. Nhưng phải chi cảnh ấy ở nơi xa xôi, cách biệt với ngôi làng đang trong cảnh “nước sôi, lửa bỏng”, đằng này nó chỉ cách đó mấy trăm thước và cũng gần đê nhưng cao ráo, vững chãi. Nơi ấy, quan phụ mẫu đang ngồi chễm chệ, uy nghi, “tay trái tựa gối xếp, tay phải duỗi thẳng ra, để cho người nhà quỳ dưới đất mà gãi”. Kế bên là “bát yến hấp đường phèn, để trong khay khảm, khói bay nghi ngút”…Xung quanh các thầy đề, thầy đội…thi nhau hầu bài cung phụng quan phụ mẫu. Một lũ người vô lương tâm, vô trách nhiệm đang “ngồi mát ăn bát vàng”, bất kể dân chúng đang trong cảnh khốn cùng, bĩ cực chống chọi với thiên tai, bọn chúng vẫn ung dung, nhàn hạ, “bình chân như vại” coi như không có việc gì. Là quan phụ mẫu, được coi như cha mẹ của dân. Ấy vậy mà hắn coi “một nước bài cao, bằng mấy mươi đê lở, ruộng ngập”. Bên ngoài mưa gió ầm ầm, trời long đất lở, ai chết mặc ai. Bên trong, hắn vẫn thảnh thơi “xơi bát yến”, “ngồi khểnh vuốt râu, rung đùi…”. Cái cảnh ấy khiến ai trông thấy mà chẳng uất ức, nghẹn ngào.

Xem thêm:  Tình yêu quê hương đất nước của Ông Hai trong truyện ngắn Làng

Tuy nhiên, xung quanh đó một lũ quan vô lại vô tích sự đang ngồi hầu bài mà miệng không ngớt lời nịnh hót, o bế tên quan phụ mẫu. Bọn chúng tranh nhau tỏ ra cho quan lớn biết “mình vào được nhưng không dám cố ăn kìm”, “mình có đôi mà không dám phỗng qua mặt”, nhằm tâng bốc, lấy lòng quan lớn.

Bằng nghệ thuật tương phản, tác giả vẽ nên một bức tranh vô cùng sinh động: một ngôi làng đang trong cảnh mưa gió, bão lũ bao trùm, nhân dân điêu đứng, khắp nơi nước dâng lênh láng, con người, nhà cửa, trâu bò, gà vịt đang rên xiết, kêu la ầm ĩ. Ở giữa là một thủ phủ của tên quan phụ mẫu, bên trong đèn đuốc sáng trưng, trông rất trang nghiêm, người người nhàn hạ chơi tổ tôm rất đỗ sung sướng. Thật đúng là một cảnh trớ trêu! Giọng văn miêu tả của tác giả đầy mỉa mai, khinh bỉ nhưng cũng đầy chua xót.

Tên quan phụ mẫu đang say sưa với những ván bài, bỗng bên ngoài “tiếng kêu trời dậy đất”. Mọi người đều giật nảy mình, riêng hắn vẫn điềm nhiên, bình thản như không nghe thấy. Đến khi có người hớt hải chạy vào báo quan đê vỡ thì hắn giận dữ quát: “Đê vỡ rồi!…Đê vỡ rồi, thời ông cách cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày! Có biết không?…Lính đâu? Sao bay dám để cho nó chạy xồng xộc vào đây như vậy? Không còn phép tắc gì nữa à?” Hắn đuổi cổ người bẩm báo ấy và tiếp tục ván bài của mình.

Dưới ngòi bút đầy sắc sảo của tác giả, tên quan phụ mẫu hiện ra là một tên quan “lòng lang dạ thú”, vô cùng tàn nhẫn, không một chút tính người. Chúng coi dân như cỏ rác. Là quan lớn, đáng lẽ hắn phải lo cho dân chúng, chỉ đạo việc đê điều, giúp dân vượt qua thiên tai thì hắn lại ung dung hưởng lạc thú. Hắn sống sung sướng trên nỗi đau của người dân. Cuộc sống của nhân dân bị đè nặng bởi thiên tai là bởi lũ quan lại thối nát, bẩn thỉu. Họ luôn luôn phải sống trong cảnh đau khổ triền miên.

Đoạn kết là cảnh trong khi quan lớn ù ván bài to như thế, thì khắp nơi mọi miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết, kẻ sống không còn chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước”. Đúng là một cảnh hãi hùng, đau xót giữa đêm khuya.

Ngòi bút miêu tả đặc sắc của tác giả đã khắc họa nên một bức tranh về cảnh lầm than, tang tóc của người dân trong cơn đại hồng thủy lúc nửa đêm. Qua đó, tác giả cũng đã vạch trần bộ mặt xấu xa, tàn ác của bọn quan lại, lũ sâu dân mọt nước sống hưởng lạc trên sự đau khổ của nhân dân.

Phát biểu cảm nghĩ về truyện Sống chết mặc bay – Bài làm 4

 

Đất nước Việt Nam chúng ta khi bước vào thế kỷ XX, nền văn học có nhiều sự biến đổi mới, những tác phẩm văn học thời kỳ này mang tính hiện thực phê phán nhiều hơn. Mỗi tác phẩm đều phản ánh chân thực cuộc sống của người nông dân lao động trong chế độ cũ.

Truyện ngắn “Sống chết mặc bay” của nhà văn Phạm Duy Tốn là một tác phẩm tiêu của của nền văn học hiện thực phê phán này. Tác phẩm kể về chuyện của một tên quan được nhận lệnh của nhà vua về công tác phòng chống lũ lụt chống vỡ để ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nước ta.

Nhưng trong khi dân chúng đang lo lắng, nhớn nhác phòng hộ đê, sợ đê vỡ thì bao nhiều hoa màu, nhà cửa, gia súc, gia cầm của người dân trôi sông trôi biển hết, thì viên quan lo công việc phòng hộ đê. Hắn được nhận lương của nhân dân của triều đình để làm việc này lại đang say sưa đánh bạc.

Truyện ngắn “Sống chết mặc bay” phê phán thói vô trách nhiệm của quan lại phong kiến thời xưa. Sống chết mặc bay chỉ lo giữ tiền bạc của mình, còn dân sống sao kệ dân bọn chúng không quan tâm và cũng không lo lắng.

Bọn chúng miệng thì nói thương dân, yêu dân như con nhưng trong lúc nhân dân cần chúng thì chúng bỏ mặc nhân dân một mình đơn độc lo chống chọi lại với thiên tai bão lũ.

Đọc tác phẩm của Phạm Duy Tốn chúng ta nhận rõ nhà văn đã xây dựng các chi tiết vô cùng đặc sắc, tương phản thể hiện sự tinh tế của tác giả. Hai mặt tương phản đó chính là một bên nhân dân đang phải căng thẳng đánh vật với thiên tai, với bão lũ, lo sợ vỡ đê thì nhân dân mất trắng công sức của mình.

Trong lúc đó, viên quan phủ cùng chánh tổng những tên có chức sắc trong làng lại đang say sưa, sát phạt, ăn thua với nhau trên chiếu bạc, không một chút động lòng, mảy may nghĩ tới việc chỉ đạo nhân dân phòng hộ đê.

Hai bức tranh đời tương phản, đối lập nhau, khiến người đọc vô cùng xúc động và suy nghĩ rất nhiều về một chế độ phong kiến thối nát, tham nhũng, lộng quyền.

Toàn bộ tác phẩm “Sống chết mặc bay” được tác giả Pham Duy Tốn chia thành hai bức tranh vô cùng đặc sắc. Trong đó bức tranh thứ nhất, chính là cảnh những người nông dân khốn khổ đang lo phòng hộ đê, thời gian là nửa đêm, gần một giờ sáng, trong bối cảnh nước mưa ngày càng lớn, người dân đã vật lộn với những bờ để cả ngày tới tối, tới tận nửa đêm nhưng người dân vẫn chưa được nghỉ ngơi.

Công việc nặng nề căng thẳng biết bao. Trong khi mưa gió, mỗi lúc càng lớn hơn “Mưa tầm tã” những cơn mưa ngày càng nặng hạt, trút xuống tầm tã, khiến cho nước sông Nhị Hà ngày một dâng cao hơn. Con đê nhỏ bé như đang oằn mình chống đỡ với mực nước ngày càng lớn, chỉ chờ để vỡ òa ra, cuốn trôi đi tất cả. Người dân sống trong nơm nớp sợ hãi, lo âu, trên khuôn mặt ai cũng đầy những nỗi sợ hãi, sự căng thẳng, bất an.

Hàng trăm nghìn con người, mỗi người một công cụ, kẻ cuốc, kẻ vác tre, đắp đào, bì bõm, mồ hôi vã ra như tắm dưới cơn mưa nặng hạt… ai cũng mệt, và đói bụng, nhưng tất cả đều chăm chỉ làm việc, vì họ lo lắng cho số phận tương lai của chiếc đê kia. Nếu nó vỡ thì những công sức lao động, nhà cửa, hoa màu, trâu bò, lợn gà của người dân sẽ theo nó mà trôi mất.

Chiếc đê chính là sự cứu vớt là linh hồn cuộc sống của họ. Nên ai cũng lo lắng lắm, cũng cố gắng ra sức để phòng hộ đê, mong sao sức người có thể chiến thắng được sức mạnh của thiên nhiên, của bão lũ.

Trong khi bức tranh thứ nhất người dân đen khốn khổ, đang lo lắng cho vận mệnh của mình. Thì trong bức tranh thứ hai, những kẻ ăn lương bổng của người dân, những người thường được xưng là cha mẹ của dân lại đang trong một khung cảnh hoàn toàn ngược lại.

Trong nhà một viên quan, những kẻ có chức sắc đang căng thẳng lắm, chúng căng thẳng không phải vì lo lắng cho số phận của người dân ngoài kia, căng thẳng không phải vì bàn mưu tính kế để phòng hộ đê tốt nhất. Mà chúng căng thẳng ăn thua, sát phạt nhau trên chiếu bạc. Những ván bài đỏ đen, tổ tôm, sóc đĩa…

Trong bức tranh thứ hai này, nhà văn Phạm Duy Tốn đã dùng ngòi bút tả thực tới lạnh lùng, bọn quan lại ấy đang ngồi trong đình làng vững chãi, chơi bài bạc, mặc kệ dân đen khốn khổ ngoài kia, đê vỡ mặc đê.

Khung cảnh vô cùng tĩnh mịch trang nghiêm mọi người ngồi vô cùng nhàn hạ đánh tổ tôm, đèn thắp sáng trưng, lính tráng, người hầu kẻ hạ rất nhiều xung quanh. Hình ảnh tên quan phủ ngồi uy nghi chễm chệ, khiến cho người đọc cảm thấy phẫn nộ, căm uất..Tay trái của tên quan huyện dựa lên gối, chân phải hắn duỗi thẳng cho người hầu ngồi gãi, thể hiện một cuộc sống vô cùng sung sướng, nhàn hạ vô cùng.

Xung quanh hắn là bọn lính tráng đứng chầu chực, chờ đợi được sai khiến khi mà hắn cần một điều gì đó. Đúng là hình ảnh giàu sang phú quý, ngược lại với sự vất vả, lam lũ, nhọc nhằn của những người dân ngoài kia…

Càng về khuya thì hai bức tranh càng được đẩy lên cao tới cực điểm. Trong khi viên quan ngồi hồi hộp chờ đợi ván bài của mình ù, để hắn thắng lớn ăn được nhiều tiền của kẻ khác. Cảm giác hồi hộp nín thở của hắn, khi đời thắng bạc, tác giả Phạm Duy Tốn đã sử dụng nghệ thuật tăng cấp độ, ngôn ngữ để làm cho tác phẩm thêm phần hấp dẫn.

Xem thêm:  Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn Cô bé bán diêm

Hình ảnh này càng đối lập với người dân khi có người khẽ nói với viên quan “Bẩm, có khi đê vỡ”. Viên quan quát lớn: Mặc kệ!. Rồi khi có một người nông dân chạy vào đình làng báo cáo: “Bẩm quan đê vỡ mất rồi”

Thì tên quan đỏ mặt tía tai quát tháo, mắng lớn rằng “Đê vỡ rồi!…thời ông cách cổ chúng mày, bỏ tù chúng mày”.. Hắn quên rằng nhiệm vụ chống lụt, phòng hộ đê này thuộc quyền chỉ đạo trực tiếp của hắn. Chính sự thờ ơ, bàng quan, vô trách nhiệm của hắn đã khiến những người dân rơi vào cảnh khốn khổ, màn trời chiếu đất, vậy mà giờ đây hắn lại định đổ tội cho người khác.

Nhưng sự việc chưa dừng lại ở đó. Trong khi thầy đề tay run lên cầm cập thò vào đĩa nọc..Thì tên quan sung sướng ra bài. Hắn đã ù một ván to, ăn hết tiền của thiên hạ.

Ngoài kia người dân nháo nhác vì đê vỡ, bên trong này viên quan phụ mẫu mặt hả hê, ôm hết tiền thắng bạc bỏ vào túi mình. Đó là hình ảnh vô cùng ấn tượng, nó ám ảnh người đọc, khiến cho người đọc cảm thấy uất nghẹn căm tức thói thờ ơ, vô trách nhiệm của những tên quan tham thời xưa.

Truyện ngắn “Sống chết mặc bay” đúng như cái nhan đề của nó vậy, nhà văn Phạm Duy Tốn đã miêu tả chân thực, sâu sắc để vạch tội những tên tham quan thời xưa, khi bọn chúng chỉ biết sống cho mình, mà bỏ mặc người dân vô tội chìm trong đau khổ.

Hai bức tranh đời tương phản với nhau nhưng thể hiện tính chân thực. Qua tác phẩm của mình thể hiện tinh thần nhân văn của tác giả Phạm Duy Tốn trước nỗi thống khổ của người dân lao động thời xưa.

Phát biểu cảm nghĩ về truyện Sống chết mặc bay – Bài làm 5

Những nhà văn thiên hướng về viết truyện ngắn, những bài ký sự  mang trong mình  cái nhìn nhận những vấn đề cũ theo hướng mới  trong thời đại mới đầy tự do, phóng khoáng, hiện đại ngày càng trở nên phổ biến. Tác phẩm Sống chết mặc bay của tác giả Phạm Duy Tốn cũng là một trong số những bài viết đặc sắc thể hiện được chân thực hình tượng, lồng ghép nhiều cảm xúc, quan hệ nhân sinh, đời sống và tâm hồn của người dân thời xưa.

Câu truyện được khắc họa đậm nét từ nhan đề đến cốt truyện đến khá độc đáo, đặc biệt, chân thực, khi viết về đề tài nhấn mạnh vào những công việc, những tâm tưởng thường ngày của người “làm cha làm mẹ” của dân.Viên quan phủ ở một huyện nghèo được phân công cai quản, chỉ đạo, giúp nhân dân của mình đắp đê chống bão lụt ở một vùng sông nước Bắc Bộ trong một đêm vào đầu thế kỉ XX.

Câu truyện được tác giả dễ dàng chia làm 3 phần để dễ dàng tìm hiểu, bộc lộ những suy nghĩ của mình. Phần một được hiểu là phần từ đầu đến “… Khúc đê này hỏng mất” muốn nói cho chúng ta biết về hoàn cảnh cấp bách trước nguy cơ đê vỡ, cùng với  sự chống đỡ trong tuyệt vọng của người dân, tiếp đến là phần thứ hai: từ “Ấy, lũ con dân…” đến “… Điếu mày” tái hiện lại cảnh quan phủ và nha lại đánh tổ tôm trong khi “đi hộ đê”, một cảnh tượng gây bức xúc với tất cả từ nhân dân,tác giả và người đọc. Phần ba sẽ là phần còn lại: là cái cảnh đê vỡ trong đêm tối, sau những vất vả, kiên cường chống đỡ nhưng không thành và nhân dân lâm vào tình trạng thảm sầu.

Toàn bộ bức tranh là những mảng màu tương phản, sự khai thác đến kiệt những chi tiết gây đến tận cùng bức xúc giữa một bên là nhân dân phải vật lộn căng thẳng, vất vả đến cực độ trước bão lụt, còn viên quan phủ cùng nha lại thì sao, những kẻ chức sắc ở địa phương – say sưa cờ bạc, không mảy may nghĩ tới việc chỉ đạo dân “hộ đê”. Người dân đặc biệt tác giả đang lên tiếng trước hoàn cảnh này, nhưng liệu nó có tác dụng?. Nó đã không, nó chẳng thể nào thay đổi được những tâm tính của những viên quan kia. Một giờ sáng,thì mọi người hôm nay không được ngủ cả ngày, quần quật, mệt mỏi, ai nấy cũng ướt át, cũng cố gắng động viên nhau, đắp đê để tránh nước tràn, tình thế căng thẳng không khác gì chiến trường. Bão lụt thiên tai đáng sợ là đây chứ đâu, “trên trời thời vẫn mưa tầm tã trút xuống”, nước sông dâng cao-  “Nước sông Nhị Hà lên to quá”. Người dân ta vốn vất vả, chăm chỉ, đau đớn trước tình hình này, đây không phải là việc của một người nên họ huy động người nhốn nháo, cơ cực, khốn khổ, hiểm nguy vô cùng! “Hằng trăm nghìn con người… kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy…Ngôn từ được tác giả sử dụng để miêu tả sự kịch tính, tập trung hoàn cảnh này, những từ dồn dập, những từ có cường độ mạnh. Những câu so sánh được sử dụng để miêu tả rõ nhất hai lực lượng thiên nhiên và con người, nhưng có lẽ yếu kém của đê điều, sức lực của con người trước thiên tai mỗi lúc một thê thảm, rất đáng lo ngại, rất đáng xót thương bằng ba câu cảm thán “xem chừng núng thế lắm… không khéo thì vỡ mất… Tình cảnh trông thật là thảm… Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời. Lo thay! Nguy thay!…”.

Ngòi bút tác giả quá sắc bén khi nhìn vào cảnh khác, để nhấn mạnh sự tương phản. Trong nơi ấm áp kia, có những vị “cha mẹ dân” họ đang làm gì trong khi dân chúng trăm đắng nghìn khổ ngoài kia?. Họ có cái suy nghĩ đình vững chãi, đê vỡ cũng không sao.  Vậy nên, sự lạnh lùng, tác trách của họ được tác giả nêu lên để tất cả chúng ta phải suy ngẫm: mọi người nhàn nhã đánh tổ tôm. “Đèn thắp sáng trưng ; nha lộ, lính tráng kẻ hầu người hạ đi lại…”. Làm sao ta quên được hình ảnh viên quan phủ. Hắn “uy nghi, chễm chệ ngồi. Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra để cho tên người nhà quỳ ở dưới đất mà gãi…”. Bên cạnh, xung quanh hắn là bọn lính lệ chầu chực đợi sai khiến và những vật dụng quý giá, đắt tiền như bát yến hấp đường phèn, khay khảm, tráp đồi mồi đựng trầu vàng, cau đậu,… Lại thêm cả đồng hồ vàng, dao chuôi ngà, ống vôi chạm bạc, ngoáy tai, ví thuốc,.. Tất cả, hiện lên rõ mồn một trước mắt chúng ta, hắn thực chất coi đây chuyến du ngoạn, vui chơi, hưởng lạc, khoe của.

Thời điểm kịch liệt cũng là lúc mọi thứ vỡ òa bên đau đớn, bên thì sung sướng, khiến ta chẳng thể nào quên được khoảnh khắc này. Đê sắp vỡ, sự gắng sức của dân cùng cực,đau khổ thì viên quan hồi hộp dđợi chờ ván bài ù to, reo vui, sung sướng đến tột đỉnh được hướng thụ một món tiền lớn. Rồi chuyện gì đến cũng phải đến, một người nhà quê hớt hải chạy vào báo tin “Bẩm quan lớn đê vỡ mất rồi” nhưng tên quan chỉ đỏ mặt tía tai quát mắng: “Đê vỡ rồi!… thời ông cách cổ chúng mày, bó tù chúng mày!”.  Tên quan đang vào guồng, giữa những ham muốn, bỏ mặc lương tâm, bỏ mặc người dân, hắn tiếp tục trong khi dân chúng ở mức độ thẳm sâu, không thể đo được thì  hắn còn vỗ tay xuống sập kêu to,hả hê hết mức, miệng vừa cười vừa nói: “Ù! Thông tôm, chi chi nảy!… Điếu, mày!”. 

Những câu văn nêu bật được thái độ phê phán gay gắt với tên quan, nỗi tức giận dâng tràn đến cùng cực đối với những viên quan vô trách nhiệm như vậy, bên cạnh đó người dân chúng ta đáng nhẽ phải là người được hưởng sự chăm sóc, giúp đỡ, thì giờ sao, tình cảnh tham thương, thiệt hại bao trùm, không thể nào kìm nén được “nước lênh láng,…kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm sầu, kể sao cho xiết!”. Tâm lý theo suốt bài viết này đọng lại nghẹn ngào, bức xúc hòa trộn, đầy nước mắt đau xót, tức giận đến mức căm phẫn.

Câu truyện đã khép lại, ta nhận thấy nhiều giá trị đắt giá, nghệ thuật, nhân đạo, hiện thực, sự kết hợp trong cách hai nghệ thuật tương phản và tăng cấp thành công, miêu tả nhân vật sắc nét, sử dụng ngôn ngữ sinh động khéo léo của tác giả để lên án gay gắt tên quan phủ “lòng lang dạ thú” con mọt của hệ thống xã hội phong kiến, hay cả một xã hội quan chức vô tâm và bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc với nhân dân khi đối diện, kiên cường đến cuối cùng đói chọi với những thiên tai dù đề lại hậu quả nặng nề trên khắp đất nước ta.

Cảm ơn các bạn các bạn vừa đọc xong top những bài văn phát biểu cảm nghĩ về truyện Sống chết mặc bay hay nhất. Chúc các bạn viết được một bài văn phát biểu cảm nghĩ về chuyện Sống chết mặc bay thật hay và luôn luôn học tập tốt nhé!