Suy nghĩ về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

Đề bài: Suy nghĩ về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

Nhà Trần (1226-1400) là một mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc ta. Ba lần kháng chiến và đánh thắng quân Nguyên – Mông, nhà Trần đã ghi vào trang sử vàng của Đại Việt những chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng … bất tử.

1348469766 news - Suy nghĩ về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

Khí phách anh hùng, vẻ vang của quân dân ta và các tướng lĩnh nhà Trần được các nhà sử học ca ngợi là “địa linh nhân kiệt”. Thơ văn thời Trần là tiếng nói của những anh hùng – thi sĩ tràn đầy cảm hứng yêu nước mãnh liệt. “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Thuý Hoài” của Phạm Ngũ Lão, “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu.v.v… là những kiệt tác chứa chan lòng yêu nước và tự hào dân tộc.

Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320) là danh tướng thời Trần, trăm trận trăm thắng, là người giỏi võ nghệ. Trong tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài thơ: “Thuật Hoài” và “Văn Thượng Tướng Quốc Công Hưng Đạo Đại Vương”.

Bài thơ “Tỏ lòng” thể hiện niềm tự hào nam nhi và khát vọng chiến thắng của người anh hùng khi Tổ quốc bị xâm lăng. Đó là bức tự họa của danh tướng Phạm Ngũ Lão.

Hoành sóc giang san Khap Ky

Tam quân, hổ, hổ, bò làng

Danh tiếng công cộng của Liễu nam còn lại

Nghe thuyết dân gian Wuhou.

Cầm giáo nằm ngang là một tư thế chiến đấu vô cùng dũng cảm. Câu thơ “Hoàng giang sơn hạ gặp thu” là một câu thơ có hình ảnh đẹp, tráng lệ cả về không gian (giang sơn) lẫn thời gian, lịch sử (tiết thu). Nó thể hiện tư thế của một người lính trên “bình nguyên” khi ra trận một cách hào hùng và hào hùng như những anh hùng trong truyền thuyết. Lòng yêu nước được thể hiện qua một bài thơ trang nghiêm cổ: cầm giáo hiên ngang, chiến đấu qua ngã để bảo vệ giang sơn thân yêu.

Đội quân “Thất Thất” ra trận với số lượng khổng lồ, trùng trùng điệp điệp (ba quân) với sức mạnh phi thường, dũng mãnh như mãnh hổ, quyết tâm đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Khí thế của đội quân này lao vào trận chiến. Không một thế lực nào, không một kẻ thù nào có thể ngăn cản được. “Ngưu thôn Tề” có nghĩa là tinh thần, ý chí quật cường muốn nuốt chửng ngôi sao Kim Ngưu, nhấn chìm và làm lu mờ ngôi sao Kim Ngưu trên bầu trời. Hay ta có thể hiểu: ba miếng chắc nuốt con trâu. Biện pháp tu từ tạo nên một hình ảnh thơ mang tầm vóc vũ trụ, hoành tráng: “Ba Quan Sĩ khí thôn ngưu”. Hình ảnh ẩn dụ so sánh: “Ba quân, hổ báo…” trong thơ Phạm Ngũ Lão thật độc đáo, không chỉ có sức thể hiện sâu sắc sức mạnh bất khả chiến bại của đội quân “Thất Sát”, mà nó còn mở ra cánh cửa dẫn đến cảm hứng thơ ca; tồn tại như một áng văn thơ kinh điển, sáng chói trong nền văn học dân tộc:

Xem thêm: Lấy chủ đề: Vai trò của rừng đối với đời sống con người. Em hãy viết một vài đoạn văn để làm sáng tỏ chủ đề trên

“Thuyền chứa đầy hạm đội;

tinh thần bay bổng

Bọ cạp ba tay, giáo và gươm sáng chói … “

(Bạch Đằng giang phú)

Người lính “Bình nguyên” mang trong mình một ước mơ cháy bỏng: khát vọng lập được chiến công trả ơn vua, trả nợ nước. Thời đại mới anh hùng có khát vọng anh hùng! “Giặc tan giặc, đem ơn hoàng đế” (Trần Quốc Toản) – “Đầu trời không xuống đất, lòng người đừng lo” (Trần Thủ Độ). “… Dù trăm thân cỏ khô, ngàn thân bọc da ngựa, ta cũng mãn nguyện” (Trần Quốc Tuấn)… Khát vọng ấy là biểu hiện rực rỡ của lòng trung nghĩa. và tấm lòng yêu nước của các tướng lĩnh, trong khi tầng lớp quý tộc chuyển giới, đang trên đà phát triển, mang trong mình một sứ mệnh lịch sử to lớn. Họ mơ ước và tự hào về thành tích hiển hách, võ nghệ hùng dũng của mình có thể sánh ngang với sự nghiệp anh hùng của Ngô Hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Hai câu cuối lấy điển cố (Vũ Hậu) để nói về món nợ công của đàn ông trong thời khốn khó, chiến tranh:

“Danh tiếng của một người vẫn còn mắc nợ

Xấu hổ khi nghe câu chuyện của Wuhou “

Cái “công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là công danh được tạo nên từ xương máu và tài trí, bằng tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Đây không phải là một thứ “quảng cáo” bình thường, táo bạo mang màu sắc anh hùng cá nhân. Món nợ công như một gánh nặng mà những người đàn ông bắt con trai phải thề sẽ trả, thề sẽ trả bằng máu và lòng dũng cảm. Không chỉ “Xấu hổ nghe chuyện Ngô Hầu” mà các tướng sĩ còn nghiên cứu binh thư, luyện cung tên, sẵn sàng chiến đấu “Làm người giỏi như Bàng Mông, tất cả dòng họ Hậu Nghệ đều có thể chôn đầu Hốt Tất Liệt tại Cửa Khe, giết Vân Nam Vương ở Cao Nhai, … ”để Tổ quốc Đại Việt trường tồn, trường tồn:“ Đứng vững ngàn năm ”(Trần Nhân Tông).

“Thuật Hoài” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ hùng tráng, mạnh mẽ. Ngôn ngữ thơ súc tích, hình ảnh chân thực, đẹp đẽ, giọng thơ da diết, trang nghiêm, mang đậm phong cách sử thi. Đó sẽ mãi là khúc tráng ca của các anh hùng, chiến sĩ thời Trần sáng ngời “khí phách Đông A”.

Nguồn Edufly

Xem thêm: Phân tích đoạn trích “Nỗi oan khuất” (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du).