Thuyết trình về Văn Miếu – Quốc Tử Giám

Đề: Thuyết minh về Văn Miếu – Quốc Tử Giám

Văn Miếu – Quốc Tử Giám là một quần thể di tích đa dạng và phong phú nhất thành phố Hà Nội, nằm ở phía Nam Hoàng thành Thăng Long thời Lý.

Là một quần thể gồm hai di tích chính: Văn Miếu tôn vinh Khổng Tử, bậc hiền triết và Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu cho đạo đức cao đẹp của nền giáo dục Việt Nam; và Quốc Tử Giám, trường Quốc Học cao cấp đầu tiên của Việt Nam, với hơn 700 năm hoạt động, đã ươm mầm cho hàng nghìn nhân tài cho đất nước. Ngày nay, Văn Miếu-Quốc Tử Giám là nơi tham quan của du khách trong và ngoài nước, đồng thời là nơi tuyên dương học sinh giỏi và tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày rằm tháng Giêng. Đặc biệt, nó còn là nơi học sinh ngày nay đến “cầu may” trước mỗi kỳ thi.

tiam - Thuyết minh về Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Về câu chuyện:

Văn Miếu được xây dựng vào tháng 8 năm Canh Tuất (1070), tức là năm Thần Vũ thứ 2 đời Lý Thánh Tông, có tượng Chu Công, Khổng Tử và Tử Cơ, vẽ hình Thất Thập Nhị Lang. Hiền nhân, bốn mùa tế lễ. Thái tử đến đó học đạo ”.

Năm 1076, Lý Nhân Tông lấy làm Quốc Tử Giám, đây có thể coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Ban đầu, trường dành cho con vua và con các đại quý tộc (nên có tên là Quốc Tử Giám). Năm 1156, Lý Anh Tông cho tu sửa Văn Miếu và chỉ thờ Khổng Tử.

Từ năm 1253, vua Trần Thái Tông cho mở rộng Quốc Tử Giám và thu nhận con em của các thường dân có học lực xuất sắc.

Thời Trần Minh Tông, Chu Văn An được phong làm Quốc Tử Giám Tử Giám (hiệu trưởng) và là người trực tiếp dạy học cho các hoàng tử. Năm 1370, ông mất, được vua Trần Nghệ Tông truy phong tại Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử.

Cuối thời Lê, Nho giáo rất thịnh hành. Năm 1484, Lê Thánh Tông cho dựng bia tiến sĩ của những người đỗ tiến sĩ từ năm 1442.

Năm 1762, Lê Hiển Tông đổi thành Quốc Tử Giám – cơ sở đào tạo và giáo dục cấp cao của triều đình. Năm 1785 nó được đổi thành một trường học của Thái Lan.

Thời Nguyễn, Quốc Tử Giám được thành lập ở Huế. Năm 1802, vua Gia Long xác định đây là Văn Miếu – Hà Nội và cho xây dựng thêm Khuê Văn Các. Trường Giám xưa ở phía sau Văn Miếu là ngôi đình để vua Khải Thành thờ cha mẹ Khổng Tử. Đầu năm 1947, giặc Pháp nã đạn pháo làm sập ngôi đình, chỉ còn lại phần móng với hai cột đá và bốn cột đá. Ngày nay, ngôi nhà này đã được trùng tu theo kiến ​​trúc cùng thời với những ngôi nhà còn lại.

Năm 1762, Lê Hiển Tông đổi thành Quốc Tử Giám – cơ sở đào tạo và giáo dục cấp cao của triều đình. Năm 1785 nó được đổi thành một trường học của Thái Lan.

Thời Nguyễn, Quốc Tử Giám được thành lập ở Huế. Năm 1802, vua Gia Long xác định đây là Văn Miếu – Hà Nội và cho xây dựng thêm Khuê Văn Các. Trường Giám xưa ở phía sau Văn Miếu là ngôi đình để vua Khải Thành thờ cha mẹ Khổng Tử. Đầu năm 1947, giặc Pháp nã đạn pháo làm sập ngôi đình, chỉ còn lại phần móng với hai cột đá và bốn cột đá. Ngày nay, ngôi đình này đã được trùng tu theo kiến ​​trúc cùng thời với những công trình kiến ​​trúc còn lại

Về kiến ​​trúc:

Quần thể kiến ​​trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám được bố trí từng khu, từng lớp theo trục Bắc Nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn Miếu thờ Khổng Tử quê ông ở Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc. . Tuy nhiên, quy mô ở đây đơn giản hơn, kiến ​​trúc đơn giản hơn và theo phương thức nghệ thuật cổ truyền dân tộc.

Xem thêm: Giới thiệu một công cụ trong học tập hoặc trong cuộc sống hàng ngày

Trước Văn Miếu có một hồ lớn gọi là hồ Văn Chương, tên xưa gọi là Thái Hồ, có hồ nước lớn gọi là hồ Văn Chương, tên cũ gọi là Thái Hồ.

Ngoài cổng chính có tứ trụ, hai bên tả hữu có bia “Hà Mã”, xung quanh khu vực tường cao. Cổng Văn Miếu được xây dựng theo kiểu Tam quan, trên có 3 chữ “Văn Miếu” bằng chữ Hán cổ.

Trong Văn Miếu được chia thành 5 khu rõ rệt, mỗi khu đều có tường ngăn và cửa thông nhau:

Khu thứ nhất: bắt đầu từ cổng chính Văn Miếu đi vào cổng Đại Trung Môn, hai cổng nhỏ là Thanh Đức Môn và Đạt Tài Môn.

Khu thứ hai: từ Đại Trung Môn đến Khuê Văn Các (do Đức Tiên Quân, tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành xây dựng năm 1805). Khuê Văn Các là một công trình kiến ​​trúc tuy không đồ sộ nhưng tỷ lệ hài hòa, đẹp mắt. Kiến trúc gồm 4 trụ gạch vuông (85 cm x 85 cm) bên dưới nâng đỡ phần áp mái phía trên, có khung bằng gỗ rất đẹp. Tầng trên có 4 cửa tròn, một dãy tay vịn và giá đỡ mái bằng gỗ mộc mạc, giản dị. Mái ngói chồng lên hai lớp tạo thành công trình 8 mái, lề đường và mặt bằng mái bằng. Căn gác là một lầu vuông, tám mái, bốn phía tường áp mái là những ô cửa sổ hình tròn tỏa ra những tia nắng. Hình ảnh Khuê Văn Các quy tụ tất cả tinh tú từ trời xuống đất và trái đất ở đây được thể hiện bằng hình vuông của giếng Thiên Quang. Tác phẩm có vẻ đẹp của sao Khuê, một ngôi sao sáng tượng trưng cho văn học. Đó là nơi thường được dùng làm nơi tri ân các sáng tác văn học, thơ ca từ xưa đến nay. Bên phải và bên trái Khuê Văn Các là Bi Văn Môn và Súc Văn Môn dẫn đến hai khu vực nhà bia tiến sĩ.

Khu thứ ba: gồm có hồ Thiền Quang tinh (nghĩa là giếng trời), có hình vuông. Hai bên hồ là hai nhà bia Tiến sĩ Mỗi bia đều bằng đá khắc tên các trạng nguyên là Bàn Long nhãn, Thám hoa, Hoàng Giáp và bia Tiến sĩ đặt trên lưng rùa. Hiện còn 82 tấm bia tiến sĩ trong các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779, phân bổ đều giữa hai khu tả và hữu. Trong đó, 12 tấm bia đầu tiên (thi vào các năm 1442-1514) được dựng vào đầu thời Lê, 2 tấm bia (dành cho các vị khoa bảng 1518, 1529) được dựng vào thời nhà Mạc và 68 tấm bia cuối cùng ( các khoa 1518, 1529) được dựng dưới thời nhà Mạc. 1554-1779) được xây dựng từ thời Lê Trung Hưng. Mỗi khu nhà bia gồm 1 Bi Đình nằm ở giữa và 4 nhà bia (mỗi nhà 10 tấm bia) xếp thành hai hàng, nằm ở hai bên Bi Đình. Đình bên trái Thiên Quang Tỉnh có bia Tiến sĩ năm 1442, đình Bi bên phải có bia Tiến sĩ năm 1448.

Khu thứ tư: là khu trung tâm và là kiến ​​trúc chính của Văn Miếu, gồm hai công trình lớn được bố trí song song, nối tiếp nhau. Ngoại đình là Bái đường, nội cung là thượng điện.

Khu thứ năm: là khu Thái Học, có thời là miếu Khai Thánh, thờ cha mẹ Khổng Tử, nhưng đã bị phá. Tòa nhà Thái Học mới được xây dựng lại vào năm 2000.

Trong Văn Miếu có tượng Khổng Tử và Tứ vị Khổng Tử (Nhân Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử). Trong đền thờ Khổng Tử có hai đôi hạc cưỡi rùa. Đây là hình ảnh rất đặc trưng của các đền, chùa, lăng, miếu ở Việt Nam. Hình tượng hạc thờ lưng rùa ở nhiều đình chùa, hạc đứng trên lưng rùa tượng trưng cho sự giao hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự thuần khiết và cao quý. Theo truyền thuyết, rùa và hạc là bạn rất thân của nhau. Rùa tượng trưng cho động vật sống dưới nước và có thể bò, còn sếu tượng trưng cho động vật sống trên cạn và có thể bay. Trời mưa lũ làm ngập diện rộng, sếu không sống được dưới nước nên cụ rùa đã giúp sếu vượt qua vùng ngập nước đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi gặp hạn hán, rùa được đàn sếu giúp đưa lên vùng nước. Nó nói lên lòng trung thành và sự hỗ trợ lẫn nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt.

Ngày nay, Khuê Văn Các ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám đã được công nhận là biểu tượng của thành phố Hà Nội.

Xem thêm: Mô tả của con thỏ

Nguồn Edufly