Tuyên ngôn độc lập đầu tiên – Văn mẫu lớp 7.

Tuyên ngôn độc lập đầu tiên – Văn mẫu lớp 7.

Hướng dẫn

Tổ tiên ta kể lại rằng: Năm 1076, quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy sang xâm lược nước ta. Vua Lý Nhân Tông sai Lý Thường Kiệt đi dẹp giặc ở phòng tuyến sông Như Nguyệt (một đoạn sông Cầu, nay thuộc huyện Yên Phong, Bắc Ninh). Bỗng một đêm, quân sĩ chợt nghe bên trong đền thờ tướng quân Trương Hát (thờ hai anh em Trương Hống và Trương Hát, hai tướng giỏi của Triệu Quang Phục, được tôn là thần sông Như Nguyệt) ngâm thơ:

Nam quốc sơn hà nam đế

Tự nhiên ở trời định.

Giống như sự vi phạm của cuộc xâm lược lỗ

Anhydrous hoạt động như một con tàu bị hư hỏng bất bại.

Đây là một bài thơ tứ tuyệt bảy chữ theo thể Đường luật, nguyên văn chữ Hán. Chúng ta có thể đọc bản dịch bài thơ như sau:

Sông núi phương Nam – Vua phương Nam

Thiên sách đã chia đôi đất nước

Tại sao kẻ thù lại đến đây?

Chúng ta phải tan vỡ.

Đến nay, các học giả vẫn chưa xác định được tác giả của bài thơ. Vì bài thơ xuất thân từ đền thánh, có tác dụng cổ vũ quân và dân ta quyết tâm đánh giặc nên người ta gọi bài thơ này là “thơ thần”. Bài thơ không có tên. Để thuận tiện, nhiều người đã đặt tên bài hát là Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam). Như vậy, từ hoàn cảnh ra đời, đến việc tiếp nhận, truyền bá, tìm kiếm tác giả và đặt tên, tác phẩm thơ này đều thấm đẫm truyền thuyết và linh thiêng. Không còn là tiếng nói của con người, mà là âm vang của giọng nói thần thánh, không còn là những suy tư, cảm xúc của một người – tác giả – mà là trí tuệ, tâm hồn của cả dân tộc Việt Nam hôm qua như hôm nay.

Giả sử bài thơ được làm theo thể thất luật, thất ngôn tứ tuyệt vì mỗi câu thơ gồm bảy chữ (bảy chữ, bảy vần), toàn bộ bài thơ gồm bốn câu. Trong bài thơ, các câu 1, 2 và 4 gieo vần với nhau ở âm cuối: Đế Đôi, Thiên Thư, Vãng Sanh. Ba từ ghép vần với nhau đều là những vần có âm bằng và âm không. Trong bản dịch thơ, ba chữ cuối của câu 1, 2 và 4 cũng gieo vần: ở, làm, ngắt, khác với nguyên tác, người dịch sử dụng vần, hai biện pháp “hỏi, ngã”, nhưng luôn theo vần. luật thơ. Khi đọc ta vẫn cảm thấy bùi tai, mang âm điệu thơ trung đại, hài hòa, cân đối.

Xem thêm: Biểu cảm của cây bàng gần em

Bài thơ Nam quốc sơn hà là một tác phẩm diễn đạt, ý tứ thể hiện rõ qua ý của lời nói (lối nói). Còn nội dung biểu đạt thì “ẩn chứa” bao tầng ý nghĩa, đòi hỏi người đọc phải nhạy cảm, vừa để hiểu ý thơ, vừa phải suy tư, liên tưởng, tưởng tượng để đồng cảm với tác giả, vừa rung động với hồn thơ. .

Nam quốc sơn hà nam đế

Tất nhiên, duyên số tại trời

Nước Nam thuộc về nhân dân Nam Bộ. Điều hiển nhiên này đã được ghi rõ trong sách thiên đàng. Trong câu đầu tiên, chúng ta chú ý đến hai chữ “Nam Đế”. Nam Đế là Nam Đế, được hiểu là “Vua phương Nam”. Tại sao tác giả không dùng từ “Nam Vương”, mà cũng có nghĩa là “Vua nước Nam”? Bởi vì, theo quan điểm của các nhà cai trị phong kiến ​​phương Bắc, chỉ có vua của họ mới “được phép tự xưng là ‘hoàng đế’.” Họ tự coi mình là “con trai của trời” (son of Heaven), trên hết là vua của các nước khác. Bằng cách dùng từ “Nam Đế”, tác giả Nam quốc sơn hà thể hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Đằng sau câu đối, người ta có ấn tượng khi nghe giọng nói mạnh mẽ và đầy tự hào: Trong Nam ta cũng có hoàng đế, bình đẳng, bình bắc, không ai có quyền khinh mình. Sau câu đầu vừa rực rỡ ý tưởng vừa đầy tự hào, câu tiếp theo tiếp tục ý tưởng và cảm hứng đó. “Chắc chắn số phận ở thiên đường” mang một âm trầm mạnh mẽ và chắc chắn như một lời khẳng định dứt khoát. Hai chữ cuối cùng, “the book of Heaven” có nghĩa là “sách của trời, ý trời”, càng nhấn mạnh một chân lý tự nhiên, mà ngày nay chúng ta gọi là chân lý, là lẽ phải. Vậy, về nội dung của “biểu cảm”, hai câu thơ đầu khẳng định chủ quyền của đất nước, độc lập và quyền bình đẳng của dân tộc ta. Đồng thời, từ ý nghĩa, giọng điệu và ngôn ngữ thơ đều toát lên niềm tự hào, kiêu hãnh, hiên ngang, tư thế ngẩng cao đầu của nhà thơ, của tất cả dân tộc Việt Nam thời bấy giờ.

Xem thêm: Em hãy cho biết suy nghĩ và cảm nhận của mình về niềm vui được sống giữa thiên nhiên

Hai câu sau:

Giống như sự vi phạm của cuộc xâm lược lỗ

Anhydrous hoạt động như một con tàu bị hư hỏng bất bại.

Nội dung của tấm bảng cũng rất rõ ràng: kẻ thù kia, đừng lấn tới. Nếu can thiệp, họ sẽ phải chịu một thất bại thảm hại. Lời nói và giọng điệu chắc chắn, vừa mang lại sự phán xét vừa cảnh báo những kẻ xâm lược. Khi nghe bài thơ này, quân và dân ta – những người luôn ý thức về chủ quyền đất nước, tin vào quy luật hiển nhiên của tạo hóa, tin vào “sách trời” – sẽ vô cùng phấn khởi, càng thêm tin tưởng và quyết tâm. vội vàng, bạn, tiêu diệt kẻ thù. Còn những kẻ ngoại xâm bất nghĩa, khi nghe những lời này – lời thơ, lời dạy của thần thánh – họ sẽ không thể nguôi ngoai. Họ sẽ hoang mang, suy nghĩ về tương lai, số phận “ăn nên làm ra”, thất bại tất yếu phải chấp nhận. Lời thơ như một lời kêu gọi, một lời nhắn nhủ, gửi gắm niềm tin, sự phấn khởi cho quân ta, đồng thời cũng là lời cảnh báo, tín hiệu, làm quân địch hoang mang, lo sợ. Cũng giống như hai câu thơ trên, hai dòng cuối của bài thơ này hài hòa ý tưởng với tình cảm, “biểu cảm” hài hòa “biểu cảm”. Tính biểu cảm hiện rõ trên bề mặt ngôn từ, còn tính biểu cảm ẩn sâu trong câu chữ, trong âm nhạc, trong cảm nhận và liên tưởng tự nhiên của người đọc.

Xem thêm: Văn mẫu lớp 7: Tả con đường đến trường

Bài thơ Nam Quốc Sơn Hồ là tiếng nói, lương tâm, tình cảm của cả dân tộc Việt Nam trong thời khắc lịch sử bi hùng, trước nạn ngoại xâm thế kỷ XI. Bài thơ khuyến khích các chủ đề cụ thể. Đó là người dân Việt Nam, từ nhà lãnh đạo quân sự cao nhất, nhà vua, cho đến các tướng lĩnh, binh lính và tất cả những người dân bình thường nhất. Đồng thời bài thơ cũng gián tiếp nhắm vào quân Tống xâm lược lúc bấy giờ. Với dân tộc Việt Nam, những người sáng tác, ngâm thơ đã cổ vũ, động viên, nhưng với giặc ngoại xâm thì nghiêm khắc lên án, cảnh cáo. Vì vậy, Nam quốc sơn hà được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta. Ở đây, chân lý vĩ đại và thiêng liêng nhất được thể hiện: Tổ quốc Việt Nam thuộc về nhân dân Việt Nam, không ai có quyền xâm phạm, kẻ xâm phạm sẽ bị đánh đổ. Thơ viết bằng chữ Hán, nhiều từ Hán Việt nhưng không quá khó. Suy nghĩ kỹ vẫn hiểu được tư tưởng, để rồi cộng hưởng tình cảm của tổ tiên, càng thêm yêu và càng tự hào về dân tộc mình, một dân tộc yêu nước nồng nàn, không bao giờ cúi đầu trước quân xâm lược. Và chúng tôi cũng hiểu đó là tiếng mở đầu, bởi sau này, dân tộc ta sẽ có những bản tuyên ngôn khác, hào hùng hơn, vang dội hơn …

Xem lại bài bình luận ca dao châm biếm – vũ khí tinh thần sắc bén của nhân dân ta

Nguồn: Bailamvan.edu.vn